TÚ DUYÊN :: THỦ ẤN HỌA

A dedicated website has been launched by a fan. Created to highlight the work of woodblock printmaking, an art form and prints of highest artistic stage by Vietnamese artist Tu-Duyen!

“…Thủ ấn họa đã tạo nên những bức tranh tuyệt mỹ khiến người coi cảm thấy có những sắc màu riêng biệt thích hợp với tâm trạng từng lúc, từng khi. Cái đó là do theo nguồn cảm hứng của họa sĩ tạo nên. Họa sĩ ấy là ai? Là TÚ DUYÊN vậy…”

Thursday, June 16, 2005

Saturday, March 5, 2005

NHỮNG CÂY CỌ KHÔNG GIÀ THEO NĂM THÁNG

Lần thứ hai trong những năm đầu thế kỷ 21, CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi đã tổ chức Triển lãm hội họa tại Hội Mỹ Thuật TP.

Năm nay, với sự đầu tư của TP cũng như với sự chăm sóc chu đáo của Hội Mỹ Thuật TP. HCM, cuộc triển lãm của CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi (NCT) đã qui tụ được 59 tác giả và 87 tác phẩm.

Theo anh Huỳnh Phương Đông, chủ nhiệm CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi, sắp tới Hội Mỹ Thuật TP sẽ tổ chức một trại sáng tác và đã có 12 họa sĩ tóc bạc đăng ký tham gia. Đây là những họa sĩ đã có thành tích “sống chết với nghề”, các anh chịu đi, chịu sáng tác dù có khó khăn về sức khỏe và cả về kinh phí. Tuy vậy có những trại sáng tác ở rất xa thành phố, các anh cũng không ngại thời tiết nắng mưa ấm lạnh vẫn khoác balô giá vẽ lên đường như những đồng nghiệp tuổi trẻ. Có anh không những chỉ dự một trại mà còn đi dự những đợt trại liên tiếp để thu vào bản vẽ những phác thảo về đất nước, cuộc sống và con người của nhiều địa phương khác nhau.

Để trở thành thành viên của CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi, các họa sĩ phải ở độ tuổi từ 60 trở lên và người cao tuổi nhất trong CLB này chính là họa sĩ Tú Duyên 89 tuổi. Dù các anh đã bị năm tháng làm hao mòn sức lực nhưng sự đam mê sáng tạo nghệ thuật thì vẫn chưa hề mai một. Những dịp lễ lớn của quốc gia như lễ 30/4, Quốc khánh 2.9, các họa sĩ cao tuổi đều có tranh triển lãm chào mừng. Các anh cũng không ngại tuổi già sức yếu đã cùng các đồng nghiệp trẻ đi thực tế, tham dự các trại sáng tác. Sự có mặt “trên từng cây số” của các anh trong CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi đã cho thấy tuổi tác không ngăn được niềm say mê lao động nghệ thuật. Năm tháng dường như chỉ lấy đi được nơi các anh một phần thể lực chứ bút lực thì dường như còn nguyên đó sự điêu luyện già dặn. Hình như thời gian phía trước càng ngắn đi, các anh càng tha thiết hơn với cuộc sống, chính đó là ngọn lửa sáng bừng cháy của sức sáng tạo.

(Văn Hóa Nghệ Thuật)

Saturday, February 5, 2005

TRANH GÀ NĂM DẬU

32 hoạ sĩ của Hội mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh đón chào năm Ất Dậu bằng 47 bức tranh gà. Gà là con vật rất gần gũi với con người nên từ ngàn xưa đã là đề tài cho hội họa đến bây giờ.

Với đề tài gà nhưng mỗi tác giả thể hiện theo cách nghĩ, theo lối vẽ sở trường của mình. Xem tác phẩm Chọi Gà của Phan Mai Trực, tác giả vẽ chàng thanh niên cầm gà lên ngắm nghía, nhiều người ở thành phố không hiểu vì sao như vậy là chọi gà. Nhưng với người từng xem chọi gà thì thấy đây là một thao tác trong trò chọi gà. Tranh mô tả người chơi gà đang “vô nước” cho gà giữa hai hiệp đấu mà đỏ mặt tía tai, hy vọng gà mình thắng. Cùng một ý nghĩ này, nhưng phong cách trình bày phảng phất nét tranh dân gian, Lê Xuân Chiểu trên tranh khắc giấy lại thể hiện hai đứa trẻ đang ôm hai con gà chọi chuẩn bị cho trận thư hùng trong bức Vào Hội. Còn dùng sơn dầu để mô tả nét văn hoá truyền thống thì Vũ Trung Lương có bức Hùng Kê Quyền và Phạm Thanh Tâm có bức Con Gà Tò He - món đồ chơi tượng hình gà được làm bằng bột có tô màu dành cho trẻ con.

Mượn hình ảnh gà để thể hiện tình cảm gia đình, người ta thấy có bức tranh sơn dầu Gia Đình Gà của Ngô Túy Phượng. Nhìn tranh của anh người ta thấy đồng quê, một màu xanh thanh bình qua nét vẽ mộc mạc. Bức Gà Trống Nuôi Con tranh vi tính của Mai Ngọc Sương, chủ đề quen thuộc được thể hiện bởi phong cách hiện đại. Hai tác phẩm tranh giấy dán Tình Bạn của Đặng Thị Dươn và Mừng Năm Mới của Nguyên Vũ góp phần làm phong phú thể loại cho hội tranh gà tuy chưa được tinh xảo lắm. Nguyễn Ngọc Quế mô tả gia đình gà có ba con và anh cho đó là hạnh phúc. Có lẽ đối với gà, ba con là tiêu chuẩn của kế hoạch hoá gia đình!

Tính cách của họ nhà “kê”

Bức tranh sơn dầu Gà Trống của Lê Hiếu có lẽ là lớn nhất (1,5 m x1,5 m) trong số tranh gà năm Ất Dậu. Anh chọn màu đỏ và vàng làm chủ đạo phù hợp với nét xuân rực rỡ. Dáng gà trống kênh kiệu như phụng múa. Cùng khắc họa Gà Trống, họa sĩ Phạm Ngọc Nga đã vẽ cả bốn chú gà trống đang ăn lúa trong thúng, hoà bình và thân ái, nói lên cá tính gà trống không phải lúc nào cũng hăm hở đá nhau. Tính cách gà được thể hiện nhiều nhất qua các tranh thuỷ mặc của các tác giả Trương Hán Minh, Lý Khắc Phục. Với sở trường của mình , hoạ sĩ Trương Hán Minh đã biểu diễn nét bút qua bức Kim Kê Hí Điệp, trong đó đôi bạn gà đang đùa giỡn với bướm, cảnh yên bình thường thấy trong những buổi sáng ở thôn quê, khi mặt trời đã lên cao. Lý Khắc Phục cũng dùng hai màu trắng đen làm chủ đạo nhưng có thêm hai màu đỏ và vàng để làm rõ mào gà và chân, mỏ gà, đưa hình tượng bầy gà trống hướng về một hướng để rồi gắn lên tiêu đề bức tranh là Kết Đoàn. Lão họa sĩ Tú Duyên, một thời nổi tiếng với thủ ấn họa, nay cũng góp phần với tác phẩm Giặc Đến Nhà, mô tả chị gà mái hùng dũng chống lại đàn diều hâu, bảo vệ các con.

 Chào xuân

Tranh gà nhưng có pha nét xuân nhiều nhất là tranh thủy mặc. Nào là Nghênh Xuân của Trần Văn Hải, Hót Xuân của Trương Hán Minh và Nhịp Điệu Chào Xuân của Lý Khắc Nhu, mỗi tranh mỗi vẻ, nhưng gây ấn tượng cho người xem là Nhịp Điệu Chào Xuân, mô tả một đàn gà cùng nhảy bước nhịp nhàng, sử dụng ít nét giản đơn nhưng hiệu quả cao! Các họa sĩ theo trường phái trừu tượng, lập thể cũng làm cho người xem thích thú vì phải động não như các tranh Gà Mái, Gà Vàng của Uyên Huy, Năm Dậu của Lê Triều Điển. Gà Vàng còn chứa thêm tính cách thời sự khi chung chủ thể gà bị bao vây bởi virus H5N1. Hội tranh gà với chủ đề rõ ràng như thế, nhưng hoạ sĩ Trịnh Thanh Tùng vẫn cố tình “xổ lồng” qua 2 bức vẽ thiếu nữ khỏa thân ôm gà và đặt tên cho hai bức là Gà Đất và Gà Rừng, nghe có vẻ ngây thơ, nghiêm túc.

Lương Minh

THE ART'S COLLECTION


In the mid 1980's, at a time when Vietnam remained largely closed to the outside world and was still recovering from decades of war. The collection has been carefully developed to include the leading artists from each of the 4 generations since the establishment of the original Ecole Superieure des Beaux-Arts de L'Indochine (Fine Arts College of Indochina) founded by the liberal-minded French artist Victor Tardieu in 1925. 

The first generation covers those artists who studied at the French-influenced college between 1925-1945; the second generation covers the war years from 1945-1975; the third generation covers Vietnam's socialist realism period of 1975-1986; and the fourth generation covers the period from the country's initiation of its Đời Mới "renovation" policies in 1986 to the present day.

Artists represented in this collection include: Nguyen Gia Tri, Bui Xuan Phai, Nguyen Sang, Nguyen Tu Nghiem, Nguyen Tien Chung, Tu Duyen, Nguyen Xuan Viet and my others. 

Tu Duyen was one of the first generation of artists to study at the Ecole Superieure des Beaux-Arts de L'Indochine in Hanoi from 1936-1939. Early in his career, Tu Duyen invented a new painting technique known as "hand-stamping on silk". The image is initially hand-carved on to two separate wooden plates, which are then painted using the artist's fingers. The two plates are then sequentially imprinted on to silk to create the resulting painting, which is hand-signed by the artist.

Saturday, January 1, 2005

BẤT KHUẤT

Hình bìa: Tranh họa sĩ Tú Duyên do họa sĩ Hồ Thành Đức sưu tập

Thursday, November 25, 2004

TRANH MINH HỌA TRUYỆN KIỀU

Minh họa của
Mai Trung Thứ
in trong sách
Kim Vân Kiều -
NXB Văn Học
Paris - 9151 
Kể từ khi ra đời, gần 200 năm đã qua, Truyện Kiều vẫn là kiệt tác trong thơ ca tiếng Việt. Người Việt say mê đọc Kiều, vịnh Kiều, đố Kiều, hát trò Kiều, bói Kiều, viết giao hưởng hợp xướng về Kiều, có người còn viết hậu truyện Kiều dài đến 3000 câu. Năm 1965, học giả Đào Duy Anh còn biên soạn Từ điển truyện Kiều.  Cùng với các thể loại phong phú vừa nêu, còn một loại hình nghệ thuật nữa luôn được tồn tại song hành, đó là minh họa truyện Kiều.

Sở VH-TT Hà Tĩnh, quê hương của đại thi hào Nguyễn Du, vừa xuất bản Tranh minh họa truyện Kiều (TMHTK) do họa sĩ Lê Anh Tuấn sưu tầm, biên soạn. Sách 116 trang khổ 30x30 cm in bằng hai ngữ Việt và Anh. Sau Lời nói đầu là “Lời dẫn” của Lê Anh Tuấn. ở phần khảo cứu khá công phu này, sách in bìa truyện Kiều trong những lần xuất bản đầu tiên: Bìa Kim Vân Kiều truyện - Trương Vĩnh Ký - Bản in năm 1875; Kim Vân Kiều tân tập - Bản Quan Văn Đường in năm 1906 niên hiệu Thành Thái; Kim Vân Kiều  bản dịch tiếng Pháp của René Crayssac - nhà in Lê Văn Tân năm 1926. Phần chính có 207 minh họa truyện Kiều. Cuối sách in “Danh mục tranh” (nguồn, tác giả).

Để tạo sự nhất quán, tác giả chọn bản truyện Kiều (chú thích, chú giải và những tư liệu gốc) của Hà Huy Giáp và Nguyễn  Thạch Giang (NXB VH-TT 2000) cho việc in thơ dưới từng tranh minh họa.

Tranh minh họa truyện Kiều  được Lê Anh Tuấn sưu tầm qua nhiều ấn phẩm từng được xuất bản bằng chữ Nôm, chữ quốc ngữ từ năm 1875 đến nay và những tác phẩm truyện Kiều được dịch và in ở Pháp, Trung Quốc, Nga, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Đức, Ba Lan, Anh, Italia… Tranh minh họa truyện Kiều  được chia làm ba loại: Tranh tác phẩm, tranh minh họa, tranh dân gian.

Đọc Kiều, ta thấy ngôn ngữ Việt được Nguyễn Du thể hiện rất mực tài tình. Mỗi câu thơ trong truyện Kiều đều giàu hình tượng và nhạc điệu (Tuyết in vó ngựa câu giòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời), chính điều đó đã khơi nguồn cảm hứng và chắp cánh sáng tạo cho các nghệ sĩ. Những họa sĩ sáng tác về các nhân vật trong truyện Kiều, có mặt trong sách đều là những tài danh: Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Tường Lân, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Tư Nghiêm, Phạm Thúc Chương, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Nguyễn Đức Nùng, Bùi Xuân Phái, Tú Duyên, Nguyễn Tiến Chung… “Những sáng tác của họ được thể hiện qua nhiều chất liệu: sơn mài, lụa, màu nước, khắc gỗ, bột màu v.v… tất cả được sáng tác trong thời kỳ sung sức của họ, nên đều có giá trị nghệ thuật cao. Vẻ đẹp ấy còn phong vị hơn nhiều khi những sáng tác xung quanh truyện Kiều đều mang đậm bản sắc dân tộc… Những nàng Kiều, nàng Vân, chàng Kim… từ con người, y phục, cảnh sắc, lầu ốc đã hoàn toàn thuần Việt. Chính vì vậy mà các tác phẩm của họ đã lột tả được bản sắc từng nhân vật trong truyện Kiều. Người họa sĩ đã gửi tâm trạng của mình, cốt cách mình, nhân hạnh mình để tạo dựng tác phẩm, nó vừa thanh cao trong nghệ thuật, vừa gần gũi giữa đời thường, đó là tấm lòng của các trí thức - họa sĩ, bởi vậy tác phẩm của họ mãi mãi gắn với hồn Việt ngàn năm” (trích lời dẫn).

(HNM)

Friday, July 30, 2004

TỪ THỦ BÚT HỌA ĐẾN THI HỌA RỒI THƯ PHÁP

Thú  chơi mới và đã ở mức nở rộ  “khắp trời Việt Nam mến yêu” này là THƯ PHÁP. Thư pháp đã đến “mọi nhà” và đã vào cả chùa chiền... Một tập thơ mới in từ sau năm 1975 thế nào cũng có một hai câu thơ được - Thi Pháp hóa. Mấy câu thơ đó do thi sĩ tác giả đắc ý yêu cầu thực hiện hoặc nhà Thư Pháp thấy thích thú thì phóng bút. Một thi tập in ấn bây giờ mà không có cái vụ ít nhiều trang Thư Pháp thì coi như kém thế giá. Có cầu phải có cung, nhiều nhà Thư Pháp sáng giá hay tối giá cùng chen vai xuất hiện. Rồi ở khắp nơi có câu lạc bộ Thư Pháp, có thầy dạy Thư Pháp, có triển lãm Thư Pháp rất ư xôm tụ.

So sánh với CẦM, KỲ, THI HỌA, sau NHIẾP ẢNH NGHỆ THUẬT là THƯ PHÁP. Cầm, Kỳ, Thi, Họa là thú chơi tao nhã của cổ nhân. Nhiếp ảnh là thú chơi của người văn minh theo Tây phương do Quan lớn Đặng Huy Trứ (1825 - 1874) ở Triều Thiệu Trị đã đưa nghệ thuật và kỹ thuật này vào Việt Nam. Các cụ xưa đã bắt đầu chơi ảnh chụp.
Cử Thăng Huấn Mỹ Tú Tây Hồ
Bác bác chung nhau một cái đồ
-Trần Tế Xương
Rồi kế đến Tản Đà “Nói chuyện với ảnh”. Nhiếp ảnh đã vào nền nếp, đã tiến đến mức chụp được cả các vì sao bằng kỹ thuật số với độ phân giải cao...

Năm món “ăn chơi”: cầm, kỳ, thi, họa và nhiếp ảnh đòi hỏi phải có trình độ, phải có tiền mới mong “đi hết đoạn đường tình”. Còn Thư Pháp: rẻ, dễ cảm nhận, ai cũng có thể thưởng ngoạn được.

Đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, khi bác thượng sĩ Nguyễn Đức Long còn tại thế. Bác đã thờ phượng một chữ TÂM, chữ do bác MẶC THU viết bằng chữ Nho cùng với bức tranh lột tả toàn ý bài Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Bác Mặc Thu vẽ cảnh: Nguyệt lạc ô đề, Giang phong ngư hỏa, Cô tô thành ngoại, khách và thuyền... Bức tranh thủy mặc tuyệt vời vì màu sắc sáng tối mờ mờ nguyên tác chữ Nho của Trương Kế, dịch tác chữ Quốc Ngữ của Tản Đà được bác Mặc Thu cho ẩn hiện trong tranh. Phải chăng, thi trung hữu họa, họa trung hữu thi là như thế?

“Tranh” có hai bức như nhau, không hề có bức thứ ba. Tôi “thèm” có một bức để chơi nhưng không có thế giá với tới được. Chỉ có thể mượn một trong hai nơi. Bác Mặc Thu cho tôi mang bức tranh đi photocopy. Những ngày tháng đó chưa có photocopy màu nên đi khắp Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định, bằng mọi cách cũng chỉ “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” thôi, không ra cái thống chế gì cả.

Cũng dịp ấy, tôi thuê viết kính tặng bác Thương Sỹ một bức chữ trên giấy hồng điều:
TÂN KHỔ  HÀ PHƯƠNG TRÍ SĨ TÂM
 và  đôi câu đối:
THƯỢNG ĐẲNG TẠI THIÊN TƯ AN BẦN LẠC ĐẠO
SĨ PHU CHI CỐT CÁCH HÀN UYỂN PHONG NHO
Cụ  Thượng “khen” chữ nghĩa tôi dùng đã cực tả được sinh cảnh “Phong Nhã Đạm” của cụ. Nhưng cụ “chê” là tại sao không cho viết bằng Quốc Ngữ để ai cũng đọc được. Tôi nghĩ yêu cầu của cụ dễ dàng quá nên tôi “bay” ngay đến Hoàng Hương Trang. Tôi không ngờ bị “dội ngược” ra. Cô họa sĩ họ Hoàng chỉ nhận là biết THỦ BÚT HỌA rồi gọi tắt là THI HỌA chứ “không biết” THƯ PHÁP.

Hoàng Hương Trang kể lại câu chuyện cũ, hơi dài dòng văn tự là: “Một lần Thi sĩ Đinh Hùng đau, thi sĩ Đông Hồ và Vũ Hoàng Chương đến thăm. Tam vị thi nhân mời nhau điểm tâm rồi lại về nhà thi sĩ Đinh Hùng ngồi nhàn đàm, ngâm vịnh những áng thơ mới sáng tác để cùng thưởng lãm.

Khi ngâm vịnh những câu thơ  đắc ý, thi sĩ Đông Hồ lấy cây tăm trẻ đã tóe đầu chấm vào nước trà viết ngay lên mặt bàn đóng đầy bụi. Nhị vị Đinh, Vũ thấy: “ĐẸP QUÁ! Tại sao lại không thực hiện trong các thi tập?”.

Vấn  đề “Đẹp quá!” ấy lại được đặt ra ở nhà Kịch tác gia Vi Nguyên Đắc. Thi sĩ Đông Hồ đã dùng bút “ngòi thơ” viết lại mấy câu thơ trên giấy. Sẵn có Hoàng Hương Trang là “tiểu nữ” vừa đi dạy học về tới. Các tiền bối yêu cầu cô lập ra một trường phái mới. Trường phái thủ Bút Họa để cùng phát triển với Thủ Ấn Họa của Họa sĩ Tú Duyên. Vì; theo các tiền bối, Hoàng Hương Trang là họa sĩ và là cô giáo dạy Quốc văn, dạy hội họa cho học sinh bậc trung học ở các trường công lập tai Biên Hòa, Thủ Đức. Cô còn là thi sĩ và “ngâm sĩ” nữa. Nên cô rành thi luật để biết “VẼ” nét nào đậm, nét nào nhạt. Bài thơ ngũ ngôn hay thất ngôn tứ tuyệt là đẹp nhất cho cô Trang thực hiện trên nền bức tranh bằng giấy hay lụa. Thơ và Tranh hài hòa cả về kỹ thuật và nghệ thuật tạo nên một “sức sống mãnh liệt”. Thủ Bút Họa được khai sinh như thế.

Trong các thi tập của Đông Hồ, thi sĩ  đều tự tay viết vài bài thơ của mình. Ngay thi tập Trinh Trắng in trên giấy quý khổ 32 x 24 do Bốn Phương xuất bản năm 1961 có ghi rõ:

“Trinh Trắng, thi tuyển của Đông Hồ, Thi sĩ Việt Nam, in một nghìn bản vào dịp Hội thơ Quốc tế mỗi hai năm, họp lần thứ năm tại KNOKKE LE ZOUTE (Belgique) từ ngày 7 đến ngày 11 tháng 9 năm 1961, đặc phẩm của xuất bản Bốn Phương trong viện văn nghệ hiện sáng tác, Mĩ ấn phẩm của Thư Lâm ấn thư quán, có bốn phụ bản thơ chép tay bằng ngòi lông trên nền Thủy Mặc, đều là thủ bút và họa phẩm của tác giả”.

Hoàng Hương Trang đã không đáp ứng yêu cầu của tôi thì  chớ. Cô còn đi tiếp một hơi: “Chính anh là người ghét ai gọi chữ Nho là chữ Hán. Chữ Nho là chữ tượng hình, viết từ trên xuống dưới, viết từ phải sang trái. Ngược lại với chữ quốc ngữ hiện hành như thế. Anh trả Trang một triệu đồng một chữ cũng không viết. Bức chữ và đôi câu đối, nếu anh chịu viết ngang từ trái sang phải thì viết ngay, viết “chùa” luôn để biếu bác Thượng Sỹ”.

Tôi xô ghế đứng dậy, vùng vằng ra về. Thú thực là rất bất bình. Dọc đường xe bị “đinh tặc”, ngồi chờ vá ở gần cầu Băng Ky nghĩ lại, có lẽ Hoàng Hương Trang đúng. Chữ Nho có bốn lối viết là Chân Lệ Triện Thảo đều có thể “phối hợp nghệ thuật” để:
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.
 (Ông Đồ - Vũ Đình Liên)
Chữ  Quốc Ngữ theo mẫu tự La Tinh, số La Mã rắc rối đã được thay thế bằng số Ả Rập khi viết thường cho nhanh cho gọn như: 29 thay vì XXIX. Chữ Quốc Ngữ đã có hơn hai thế kỷ phát triển, có chữ hoa để ghi nhận nhân danh địa danh, có chữ viết thường và có chữ in đã phổ biến trong giao dịch. Các bậc Nho Giả Nho Gia xưa chê chữ Quốc Ngữ là “nôm na mách qué”, không phải là “linh tự”, chỉ là thứ chữ “tượng thanh, tượng âm” (?!) Chỉ khi nào viết ra, nói ra, đọc lên người nghe mới biết. Chê thì cật lực phủ phàng như thế nhưng lại thú vị rung đùi ngâm nga câu Kiều tám chữ có tiểu đối “tả cảnh” con đường sóng trâu sóng bò, ổ voi, ổ khủng, khiến:
Vó  câu khấp khểnh  Bánh xe gập ghềnh
Ngậm ngùi, tiếc nuối cảnh Tết: “Thuở thanh bình ba trăm năm cũ?”
Đì  đẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Eo sèo trên vách bức tranh gà
-Trần Tế  Xương
Thế  thì “Hồn” trong các câu thơ được sáng tác bằng chữ Quốc Ngữ không “Linh” sao? Ngày ấy tôi mới ở cái tuổi 50, còn mạnh khỏe, còn kiêu khí nhưng lại thiếu lời lẽ để thuyết phục cô bạn họa sĩ. Tự giận là thiếu kiến văn và “nghĩ mình, mình lại thương mình xót xa”. Bởi tôi đã cho THỦ BÚT HỌA, THI HỌA, THƯ HỌA đồng dạng với nhau. Nhưng không phải vậy.

Trong bữa tiệc “ĐỀ HUỀ” của anh Việt kiều thi sĩ: Mừng tân gia và mừng vị thế là thông gia ở Việt Nam, Hoàng Hương Trang và tôi được xếp ngồi cạnh nhau. Trở lại chuyện Thư Pháp, cô nhắc nhớ: “Vào trung tuần tháng Chạp năm Nhâm Tý (1972) Trang triển lãm Thi Họa gồm 23 bức tranh TÚY CA tại khách sảnh Miền Vĩnh Nghiêm. Lâm cao sỹ (Đông Hồ) và Bạch Vương (Vũ Hoàng Chương) gọi Hoàng Hương Trang là TÀI NỮ. Thi sĩ Trụ Vũ và họa sĩ Vũ Hối có đến coi. Trang tặng anh Vũ Hối bức Độc Dược”.

Tôi hỏi Hoàng Hương Trang:

- Tại Việt Nam mình, nghề nào cũng có tổ sư  Bồ Đề và đều có Miếu Đền thờ  phụng như văn thì có văn miếu thờ Khổng Tử, võ thì có Võ miếu thờ Quan Công. Thư Pháp cũng phải có sư tổ. Vậy ai là Thư Pháp Tổ chữ Quốc Ngữ bây giờ? Cô cho tôi biết với chứ!

- Anh tự tìm hiểu lấy! Trang chỉ biết năm 1985, anh Vũ Hối viết trên nền giấy chứ không phải trên tranh rồi có danh xưng là THƯ PHÁP.

Ai là Tổ Sư  Bồ Đề THƯ PHÁP chữ  Quốc Ngữ? Hẳn nhiên tôi mù tịt. Cũng chẳng có đấng, bậc nào vỗ ngực xưng tên “ta là tổ sư”. Tôi chỉ biết phương danh họa sĩ Vũ Hối với THƯ PHÁP đã vang lừng mà không có phúc được quen biết người con đất “NGŨ PHỤNG, TỀ PHI” tài hoa. Họa sĩ Vũ Hối đã ở cách xa tôi nửa vòng trái đất, có muốn làm vui lòng bậc trưởng thượng Thượng Sỹ mà phải chia động từ “tu năn nỉ” với đàn anh Vũ Hối cũng chẳng được nào!

Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi đọc một truyện ngắn dạng “tự chuyện” tên là Bán Chữ ở một tạp chí. Nhân vật trong truyện xưng tôi, tự giới thiệu là chủ gia đình và là trưởng tộc, khi tập kết trở về nhận lại gia sản tinh thần là cái nhà thờ họ từ năm đời nay. Những bức hoành phi, câu đối sơn son thiếp vàng vẫn còn treo ở chỗ cũ. Nhưng, màu son sơn đã long lở, các chữ thiếp vàng chỉ còn hằn lại vết tích. Cũng may em cháu nhà anh ta chỉ hạ các chữ thờ xuống cho các tay “mua cái gì cũng bán - Bán cái gì cũng mua” bóc lấy vàng. Vẫn chưa dùng những tấm gỗ ấy làm chất đốt. Trước cảnh não lòng anh tự hứa với gia tiên: “Sẽ phục hồi lại các chữ thờ trong từ đường của cả dòng họ”.

Đọc “Bán Chữ” xong tôi rưng rưng. Thế ra ở phạm vi nhỏ vẫn còn người có lòng như cụ Tản Đà khi xưa “Vịnh Bức Dư Đề Rách”.

Ngoại Vi Lăng Ông Bà Chiểu, Đền thờ Đức Thánh Trần ở Hiền Vương Tân Định, những ông Đồ thật, Đồ giả, Đồ chơi ngang vốn đã nhếch nhác từ trước 30.4.1975. Nay, tự nhiên bốc hơi, biến mất tăm mất tích cùng thầy tướng số, thầy coi bài tây có chim hay không...

Ngày  ấy; ai còn hoài cổ vọng cổ, Xuân và Tết muốn sống lại không khí của thầy giáo Vũ Đình Liên thuở đã “Đổi Lông Ra Thép” cũng không được nhìn cảnh ông Đồ ngồi buồn thiu trước:
Giấy  đỏ buồn không thắm
Mực  đọng trong nghiên sầu
Rồi  đất nước mở cửa, kinh tế phát triển ở nội ngoại thương, ở cây trồng vật nuôi, ngăn ngừa được phần nào bão lũ. Ai có thân nhân nước ngoài đã trực tiếp được nhận ngoại tệ rồi tự chuyển đổi ra Việt Nam đồng. Quảng đại quần chúng nhân dân đã hết cảnh: “Tổ quốc ơi! Ăn khoai mì ớn lắm!” Người ta lại bắt đầu CHƠI CHỮ - CHƠI THƯ PHÁP.

Cái tên THƯ PHÁP định hình rồi nhưng chưa định danh. Những người chế tác, chế xuất ra THƯ PHÁP chưa có danh xưng Thư Pháp Gia, Thư Pháp Sĩ, Thư Pháp Nhơn, Thư Pháp Giả...

Vậy, đến bao giờ người tạo ra những bức Thư Pháp mới có danh xưng là Gia là Sĩ là Nhơn là Giả?

Ăn chơi mỗi thời mỗi vị, lịch sự mỗi thế mỗi mùi. Thư họa bây giờ (2004) đã trở thành cái “mốt thời thượng”. Khắp nơi khắp chốn đều có các gia, các sĩ, các nhơn, các giả viết THƯ PHÁP. Lại có cả triển lãm thư pháp. Cuộc triển lãm đầu tiên tại Viện Phật học Vạn Hạnh năm 1994. Tiếp sau là các Câu Lạc Bộ Thư Pháp có sinh hoạt thường kỳ, có lớp “Hướng Dẫu” và có người được hướng dẫn. Giá mềm hay cứng hoặc vô giá đều do thế giá của bậc truyền thừa. Người “thụ nghiệp” chịu chơi nhất định không sợ tốn kém.

Bức Thư pháp cao giá hay thấp giá ở cái danh của Họa sĩ. Thi gia hay Văn nhơn.... còn những người không phải loại sĩ - gia - nhơn thì có tên gọi chung chung là Nghệ Sĩ. Tất cả đều có triện son lớn nhỏ đóng trên tác phẩm.

- Về hình thức: bức THƯ PHÁP lớn, nhỏ có khung lộng kính hay không, hình vuông hoặc chữ nhật. Thư Pháp treo dọc hay treo ngang tùy theo hứng khởi ở người thực hiện. Chưa thấy bức Thư Pháp viết trên giấy nào ở dạng hình tròn hay hình tam giác. Nhưng trên đá trên cây trên đồng trên gỗ... thì có đấy. Rất đa dạng.

- Về nội dung: Trong bức thư pháp có thể là một hai câu ca dao, tục ngữ... Một hai câu thơ của danh nhân tiền bối, thơ của chính thi gia viết thư pháp, nhất là những lời Phật Ngôn, Thơ Thiền, Công Án Thiền của các bậc đại sư đều tràn lên thư pháp.

Đọc “Chữ Người Tử Tù” của nhà văn Nguyễn Tuân trong Vang Bóng Một Thời, hình ảnh ông Quan Quản Ngục đứng bưng chậu mực cho cái ông Huấn Đạo bị chặt cổ vào sáng sớm ngày mai. Còn lại chút thì giờ, Ông vẫn múa bút trên nền lụa nguyệt bạch để bức chữ đó cho Ngục Quan đem về thờ phượng. Nét đẹp thật bi tráng dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân. Rồi đọc “Chơi chữ” của Lãng Nhân. Nét đẹp xưa lại được tái hiện ở thập niên 60 thế kỷ trước. Âu cũng chỉ là vang bóng một thời nhưng rất đáng trang trọng để hôm nay (2004) có THƯ PHÁP chữ Quốc Ngữ.

Không biết có phải Phú Quý Sinh Lễ Nghĩa hay không? Khi người ta no cơm ấm cật rồi thì chữ nghĩa bắt đầu được thăng hoa. Chỉ bằng tiền chi trả cho một vài thùng bia nội hóa thôi, người ta có thể “vớt” được bức thư pháp to đùng về trưng để tự nâng cao thế giá. Nếu như lại được chính tác giả ký tên đề tặng nữa thì thật là “số dzách - năm bờ oan”.

Điều đáng mừng cho THƯ PHÁP đã chuyên chở chữ nghĩa ở dạng Văn Dĩ Tải Đạo. Tuy mới có danh chưa định danh, có hình chư định hình một cách chính thức như Nhiếp Ảnh với những Nhiếp Ảnh Gia Nghệ Thuật được quốc tế công nhận như quý vị: Cao Đàm, Cao Lĩnh, Nguyễn Mạnh Đan, Phạm Văn Mùi, Võ An Ninh.... lớp trước. Lớp sau có những danh tài như Đào Hoa Nữ, Minh Lộc, MPK, Quang Tín, Dương Đình Hùng... Nhưng luật cung cầu dần dà khiến Thư pháp định được “hình danh sắc tướng”. Khi ấy, các tác giả Thư pháp là Thư pháp gia, Thư pháp sĩ, Thư pháp nhơn, Thư pháp giả.... rồi thứ bực! Ai là Gia là Giả là Sĩ là Nhơn? Cao thấp, chiếu trên chiếu dưới khó mà định phân.

Đọc bài “LỐI VIẾT CHỮ” trong Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ. Phạm tiền nhơn khen vua nhà Lý có “bút pháp hùng tú tự nhiên, khác hẳn người tầm thường, những nét phẩy, mác, sổ, móc đã phôi thai ra lối chữ nước Nam ta”. Đó là khi Phạm Đình Hổ nhìn cái biển “Đông Hoa Môn” do đức vua nhà Lý ngự bút. Còn chữ viết ở thời “Lê Hồng Đức, nét bút lẫn cả lối châu lối khải”, Phạm Đình Hổ gọi là lối hoành biển căn cứ vào ba chữ “Đại Hưng môn”. Đến khi Phạm đọc bài Minh khắc trên bia đá chùa Bối Am của một công chúa (?) nhà Mạc thì người chê là: “Nét chữ đầu cong, chân quẹo, hơi giống chữ bây giờ, nhưng bên tả vênh lên, bên hữu vẹo xuống, có hơi khác, thực là quái lạ!”.

Phạm  Đình Hổ còn than: “Nước ta đã có tiếng là văn hiến không khác gì nước Trung Hoa, thế mà về một việc học viết chữ, lại cho là việc của kẻ thơ lại, không ai thèm lưu ý học đến...” Đó là lối viết chữ Nho, còn chữ Quốc Ngữ ngày nay; khi thì có bụng ở các chữ b, h, k, l và có mông ở các chữ g, y. Khi thì không bụng không mông. Phụ huynh học sinh bậc Tiểu Học mười mấy hai chục năm trước nhớ mãi tên ông Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại ở chữ đầu cụt  cụt đuôi! Bây giờ là THƯ PHÁP. Chã lẽ lại có sự hội thông với bài Minh ở chùa Bối An thời nhà Mạc?

Đến hôm nay, chê hay khen, chấp nhận hay phủ nhận THƯ PHÁP, chữ Quốc Ngữ thì THƯ PHÁP đã là một thực thể, một thực tế. Chứng cớ là có những người thành danh là quý ông bà: Vũ Hối, Y Sa, Song Nguyên, Trụ Vũ, Bùi Hiến, Nguyệt Đình, Chính Văn, Giang Phong, Nguyễn Thiêu Chương, Nguyễn Thanh Sơn, Minh Đức Triều Tâm Ảnh... Dù sao thì thú chơi này cũng mới chỉ xuất hiện có chưa đầy nửa thế kỷ kể từ lúc hai bậc tiền bối thi gia Đông Hồ và Vũ Hoàng Chương khởi xướng.

Những nhà văn, nhà thơ nếu lỡ viết sai chính tả còn đổ thừa đổ thiếu cho ấn công, cho người đánh vi tính. Chứ viết Thư Pháp, viết a bé (a) bê to (B), các chữ c, chữ t, có g hay không có g, dấu hỏi (?) hay dấu ngã (~), xin viết thật đúng cho con em cháu chắt nó nhờ. Là thú chơi nhưng lại là văn hóa. Làm văn hóa lầm thì hại muôn đời!

(Hoàng Vũ Đông Sơn | Newvietart)