TÚ DUYÊN :: THỦ ẤN HỌA

A dedicated website has been launched by a fan. Created to highlight the work of woodblock printmaking, an art form and prints of highest artistic stage by Vietnamese artist Tu-Duyen!

“…Thủ ấn họa đã tạo nên những bức tranh tuyệt mỹ khiến người coi cảm thấy có những sắc màu riêng biệt thích hợp với tâm trạng từng lúc, từng khi. Cái đó là do theo nguồn cảm hứng của họa sĩ tạo nên. Họa sĩ ấy là ai? Là TÚ DUYÊN vậy…”

Sunday, February 28, 2010

TRIỂN LÃM 10 NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN VIỆT HỌC

Mười năm trong lãnh vực văn hóa là một thời gian quá ngắn ngủi, nhưng với Viện Việt Học thì mười năm qua viện đã làm được một công trình khá to lớn là duy trì và triển khai văn hóa Việt Nam tại hải ngoại.

Vào sáng Thứ Bảy, tại trụ sở của Viện Việt Học ở thành phố Westminster, cuộc triển lãm của Viện Việt Học đã khai mạc với sự có mặt của các giáo sư, nhân sĩ trí thức và các nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong và ngoài viện từ nhiều nơi về cùng với rất đông giới truyền thông báo chí tại Nam California.

Giáo Sư Nguyễn Trung Quân, một thiện nguyện viên đến với Viện Việt Học từ nhiều năm nay đã thay mặt ban tổ chức giới thiệu tổng quát về nội dung cuộc triển lãm của viện nhân dịp kỷ niệm mười năm.

Trong một gian phòng không lớn lắm nhưng đã như cả một kho tàng kiến thức cho mọi người, đặc biệt là giới trẻ hải ngoại, Giáo Sư Quân đã giới thiệu đến mọi người những tác phẩm hiếm quí mà viện đã sưu tập được, những tài liệu về nền văn hóa cổ và cận đại của Việt Nam, những bản viết chữ nôm về những tác phẩm văn học lớn của VN và đồng thời cũng giới thiệu những công trình sưu tập, nghiên cứu của các giáo sư trong viện hay cộng tác với viện. Tất cả những tác phẩm, tài liệu hiếm quí này một phần được trưng bày trên hai dẫy bàn dài chiếm hết chiều dài căn phòng, một số khác được bày trong những tủ kính có khóa.

Trên những bàn trưng bày tài liệu là một vài bình bông hay những chậu lan quí mà nhà trồng lan nổi tiếng, ông Ngô Long, cho biết, “Ðây là những loại lan hiếm mà chúng tôi sưu tầm được ở Việt Nam, ở Úc và một vài nơi khác. Lan có mặt hôm nay bên những tài liệu quí hiếm này là mong tỏa thêm hương sắc vào nền văn hóa VN mà những tài liệu sách báo quí hiếm này thể hiện.”

Cũng bên những giò lan quí là những bức tranh lụa của họa sĩ Tú Duyên mà một học trò của họa sĩ là họa sĩ Văn Mộc còn lưu giữ được. Tranh lụa Tú Duyên là một lối vẽ đặc thù rất thanh thoát nửa có tính cách phương Tây và nửa lại là phương Ðông mà họa sĩ Tú Duyên đã thể hiện gần như độc quyền vì sau Tú Duyên ít thấy có họa sĩ nào theo được bước chân của họa sĩ. Bên cạnh đó là một số tranh mộc bản Việt Nam mà những nghệ nhân VN đã mất rất nhiều công phu phục chế hay mô phỏng lại. Tranh mộc bản là thứ tranh được in từ những tấm khắc gỗ mà người họa sĩ đã thể hiện lên gỗ rồi in lên những tấm giấy đặc biệt thường được chế biến từ cây Dó, một loại cây xưa thường để chế biến ra loại giấy in tiền giấy của phương Tây.

Nổi bật giữa phòng là cái trống đồng nay đã như biểu tượng cho nền văn minh hơn 4 ngàn năm văn hiến Việt Nam. Cái trống đồng này theo ban tổ chức và cả Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích có mặt đều không khẳng định là loại trống đồng Ðông Sơn hay trống đồng Ngọc Lũ. Chỉ biết đó là do cụ Hoàng Hoán, một vị cao niên rất thiết tha đến nền văn hóa cổ của chúng ta gửi đến tham dự. Theo vị đại diện cụ Hoàng Hoán thì đây là chiếc trống của một nhà sưu tầm cổ vật ở trong nước đã chuyển cho cụ Hoàng Hoán khi cụ được đi định cư ở Hoa Kỳ, với tâm nguyện rằng khi đến Hoa Kỳ cụ Hoàng Hoán phải cố gắng với những phương tiện khoa học tại Hoa Kỳ mà phục chế lại chiếc trống cổ này. Và cụ Hoàng Hoán đã không phụ lòng nhà sưu tầm cổ vật. Chiếc trống đồng đã được phục chế nhưng vành trống đã mờ hết những hình tượng sinh hoạt của người Việt cổ không thể phục chế được.

Trong số những sách báo tài liệu được trưng bày, có nhiều tác phẩm, tài liệu mới được các học giả đem đến nhân cuộc triển lãm này. Như cuốn ghi bản “Ðiều Trần của Nguyễn Trường Tộ” bằng chính văn do Giáo Sư hán nôm Ðoàn Khoách mang tới. Ðây là một tài liệu quí và thật ý nghĩa cả cho đến ngày nay. Bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ ghi chép trình lên Vua Tự Ðức nhà Nguyễn những điều tai nghe mắt thấy, khi ông đi sứ sang Pháp như ngọn đèn treo ngược mà vẫn cháy (đèn điện), xe có hai bánh (xe đạp) mà chạy được v.v... để mong mỏi nhà vua và các quan trong triều mau mau ra khỏi sự “bế quan tỏa cảng” mới tránh khỏi bị nô lệ.

Hai tác phẩm thật quí do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích góp vào viện là cuốn “Bibliotheca Indosinica” gồm 5 tập nay in lại thành 3 tập của tác giả Cordier từ năm 1912. Ðó là một thư mục có tất cả những gì mà Tây phương viết về xứ Ðông Dương (Việt, Miên, Lào) và Nam Á. Trong tập thư mục này có ghi đến hơn 20 tác phẩm của học giả Petrus Trương Vĩnh Ký. Bộ sách thứ hai, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích mang tới cho viện, là bộ Bách Khoa Tự Ðiển về Ðông Dương có nội dung đáng giá về đất nước VN cho đến năm 1937.

Một vị khác là Giáo Sư Nguyễn Văn Khanh cũng mang đến bộ tạp chí rất quí ít ai còn giữ được. Ðó là bộ “Mông Cổ Mím Ðàm” của các nhà nho tân học chủ trương từ năm 1901. Rất nhiều bài viết đề cập đến thương mại, nông tang để giúp cho đất nước được phát triển trù phú mà thoát khỏi ách nô lệ của Pháp. Cũng như nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Tuấn Khanh cũng đóng góp cho viện, bộ tạp chí của Phủ Quốc Vụ Khanh thời Ðệ I Cộng Hòa, một bộ tạp chí hầu như không còn ngay cả trong các thư viện ở VN.

Trong dịp này Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, cựu viện trưởng và hiện là cố vấn của viện, cũng đã đề cập đến công trình của những người đi trước mà “qua cuộc triển lãm này chúng ta thấy được sự lớn mạnh của lớp người đi trước. Nay chúng ta mong muốn giữ lại được phần nào quá khứ đã trôi qua mất những công trình của người đi trước từ những người xếp chữ trong nhà in vào lúc khởi đầu nghề in ở VN cho đến những cặm cụi tận tụy của nhiều người trong tầng lớp sĩ phu lúc bấy giờ.”

Ðề cập đến công trình của người xưa, Giáo Sư Trần Ngọc Ninh cũng đề cập đến công việc gọi là “Ðiển chế” chữ nghĩa trong việc soạn thảo Tự vị hay tự vựng mà nay chúng ta đều gọi là Tự Ðiển. Chữ nghĩa là tiếng nói của toàn dân. Nó không là của một chế độ nào hay nhóm cá nhân nào. Trong lịch sử trung Hoa đã có đến 3 thời kỳ nhà cầm quyền xâm phạm vào việc điển chế văn tự. Ðó là thời Tần Thủy Hoàng, thời nhà Thanh với những người chinh phục được Trung Hoa tộc Hán với tự điển Khang Hy và mới đây là thời Mao Trạch Ðông đã điển chế văn tự làm những chữ mới cho thế hệ trẻ không còn đọc được sách cổ...

Vẫn theo Giáo Sư Trần Ngọc Ninh thì chúng ta đã có những bộ tự điển được soạn bởi những học giả với sự cộng tác của Bộ Giáo Dục xét lại tổng quát trước trào lưu tiến hóa của nhân loại, sự phát triển của khoa học mà ngôn ngữ chúng ta chưa có đủ. Công trình của Giáo Sư Nguyễn Văn Thới và các giáo sư tại đại học ở miền Nam đã cập nhật hóa được các danh từ khoa học, chuyên khoa, triết học và cả văn chương cho ngôn ngữ VN. Tất cả những điều này viện hiện đang lưu trữ được.

Một người tới xem triển lãm, ông Tăng Vĩnh Thành, nói với báo Người Việt, “Muốn tìm hiểu về văn hóa VN để hướng dẫn cho ba đứa con, một đứa 15 tuổi học Việt ngữ Hồng Bàng thường hỏi nhiều câu về văn hóa VN mà tôi chẳng biết phải trả lời con ra sao. Nên được biết có cuộc triển lãm này, tôi mong đến ghi nhận được một căn bản văn hóa Việt vì khi ra đi khỏi VN tôi mới có 7, 8 tuổi chưa lãnh hội được gì văn hóa của mình. Nhưng thấy những sách báo tài liệu như thế này, tôi sợ không biết có đủ thì giờ mà tìm hiểu không.”

Viện Việt Học tọa lạc tại địa chỉ 15355 Brookhurst St., Suite 222, Westminster, cùng khu thương mại với nhà hàng Seafood World.

(Nguyên Huy | Người Việt)

Friday, February 5, 2010

THỬ PHÁC THẢO CHÂN DUNG Á THÁNH ANRÊ PHÚ YÊN

(trích đoạn...)

Bức họa đầu tiên về thầy giảng Anrê Phú Yên  tử đạo được vẽ năm 1652 do họa sĩ  Giacinto Brandi, được linh mục Alexandre de Rhodes hướng dẫn, minh họa về cái chết của thầy với khá nhiều nhân vật sinh động. Bức họa có trên 20 nhân vật, gồm có thầy Anrê, linh mục Alexandre de Rhodes, nhiều lính mang giáo và các ông Bồ Đào Nha. Theo những dòng chữ minh họa dưới bức tranh, cha Alexandre de Rhodes đề tặng cho cha Bề trên Gosuvino Nickel, Tổng Quản Dòng Tên. Rất tiếc, ngoài cái gông, giáo, mã tấu, cha Alexandre de Rhodes, người Bồ Đào Nha, chắc là giống thật, còn thầy Anrê và binh lính thì quần áo, gương mặt rất là Tây!

Sau nầy họa sĩ Tú Duyên đã Việt hóa bức tranh nầy, khá sống động. Chúng tôi chỉ thấy hình đen trắng nên không biết hình màu của họa sĩ Tú Duyên ra sao, và không biết bản chính giờ nằm ở đâu? Kính mong quý vị lưu giữ bức họa nầy cho phép đưa lên mạng để tất cả cùng được thưởng thức. Chúng tôi đưa ra đây một bản khác dựa theo Tú Duyên của một họa sĩ công giáo Hội An.

Trước và sau khi thầy giảng Anrê được phong Á thánh, nhiều bức chân dung và tượng đài dâng kính Á thánh Anrê được thực hiện. Đa số các tác phẩm trên vì không ghi xuất xứ nên khó biết tên tuổi các họa sĩ và các điêu khắc gia...

Friday, November 27, 2009

SÁCH DO CÁC HỌA SĨ LỚN CỦA VIỆT NAM VẼ BÌA VÀ MINH HỌA

Truyện Kiều Chú Giải (Văn Hòe) bìa do họa sĩ Duy Liêm vẽ
bên trong có 6 phụ bản của hoạ sỹ Tú Duyên




Wednesday, October 28, 2009

PHIM KIM VÂN KIỀU

Kính gởi các quý vị học giả, giáo sư và thân hữu,

Viện Việt Học kính mời quý vị tham dự các sinh hoạt cuả Viện và kính nhờ quý vị chuyển tin này đến thân hữu:

1.Chủ Nhật 1 tháng 11 năm 2009 từ 2 giờ đến 4 giờ 30 chiều tại trụ sở Viện Việt Học
Chiếu phim "Kim Vân Kiều"
Do đạo diễn Dương Quý Bình thực hiện năm 1968 với sự hợp tác của:
Nhà văn Tam Lang Vũ Đình Chí và Phạm Viết Lịch (truyện phim)
Hoạ sĩ Tú Duyên (tranh lụa)
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (âm nhạc)
Nghệ sĩ Bích Thuận (ngâm thơ)

2.Chủ Nhât 15 tháng 11 năm 2009 từ 2 giờ đến 5 giờ tại Houston, Texas
Ra mắt:
Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn và Bộ DVD Nam Phong Tạp Chí
Thiệp mời xin xem trong hồ sơ đính kèm dưới dạng điện tử hay ghé thăm website: www.viethoc.org
Trân trọng kính mời và cảm ơn quý vị,

Ban Điều Hành Viện Việt Học

Monday, July 20, 2009

NGƯỜI TẠO THỦ ẤN HỌA VIỆT NAM

Một buổi trưa, nắng gắt, cái nóng oi bức cộng với sự ngột ngạt của Sài Gòn khiến cho ai ai cũng cảm thấy khó chịu, 1 cái quán cóc nhỏ ven đường Nguyễn Công Trứ, trước 1 ngôi nhà có vẽ củ kỹ và lạc lỏng trong khu vực những ngân hàng đồ sộ sầm uất kẻ ra người vào.

Tôi cùng hai người đồng nghiệp ngồi xuống ghế, gọi 3 ly café đá, bàn những chuyện tiếu lâm cho đở mệt, đảo mắt nhìn vào ngôi nhà, tôi phát hiện những bức tranh củ kỹ nhưng rất có hồn dân tộc, cộng với những vật dụng bài trí trong nhà cũng tòan là đồ cổ, tò mò tôi hỏi chủ quán thì được biết cha chồng của chủ quán là 1 họa sĩ và những bức họa ấy do chính tay cụ vẽ.

Nghe những lời này tôi càng muốn được làm quen với cụ, bước vào trong tôi thấy nào là tranh, giấy cọ vẽ,..những vật dụng nằm la liệt trên bàn và nhiều nơi khác trong nhà.

Một ông cụ gầy gò bước ra ,trạc ngòai 80, đeo mắt kính tuy không được khỏe mạnh nhưng nói chuyện vẫn còn minh mẫn. Cụ bảo rằng cụ là họa sĩ Tú Duyên, người sáng tạo ra ngành thủ ấn họa độc đáo của ngành Mỹ thuật Việt Nam. Cụ đưa 1cuốn sổ tay củ, trong đó có nhiều bài báo viết về cụ, mà cụ đã cất công cắt dán cẫn thận.

Tôi chợt nhớ đến Thầy Tám , Phạm Mạnh Hùng, người thầy đầu tiên khi tôi còn thiếu thời, và nhớ lại câu chuyện kể ngày xưa của Thầy, thầy từng có 1 người bạ chuyên vẽ tranh bằng những ngón tay cùng quê ở Bát Tràng, nhà ở đường Nguyễn Công Trứ, thật là trái đất tròn và sau gần hai mươi năm từ câu chuyện kể của thầy về người bạn vong niên bây giờ tôi mới được gặp.

Sau khi tự giới thiệu và nói tên thầy Phạm Mạnh Hùng, ông cụ xác nhận là có người bạn như thế và nói chuyện với tôi về Thầy Tám, qua cách nói chuyện đầy chân tình của ông, tôi đã cảm động và xin vời cụ một ngày không xa tôi sẽ quay lại thăm cụ và chụp ảnh chung với cụ để làm kỹ niệm. Cụ Tú Duyên, 1 họa sĩ, 1 người bạn vong niên của thầy tôi, ôi con người mà tôi nghe danh gần hai mươi năm giờ mới gặp, thực sự tôi không biết nói gì hơn nữa chỉ mong cụ mãi khỏe mạnh để tôi còn có dịp thăm và trò chuyện cùng ông như đã từng trò chuyện cùng Thầy Tám ngày xưa.

(Tạp Bút Gia | Thời Gian Cuộc Sống)

Saturday, June 6, 2009

CÓ MỘT VÕ AN NINH NHƯ THẾ

Mười mấy năm trước, bạn bè tặng tôi cuốn sách Ảnh Võ An Ninh. Những bức ảnh trong sách đã thực sự cuốn hút tôi. Tôi không ngờ, ảnh chụp lại đẹp như tranh và mới biết thế nào “ngoài trời còn có trời”.

Có yêu nghề mới thấy nghề cao quý:

Nhiếp ảnh gia Võ An Ninh
Cách nay mấy năm, tôi nghe tin sức khỏe cụ không tốt, ban lễ tang, điếu văn, thông cáo báo chí... đã được chuẩn bị sẵn, nhưng cụ lại mở bừng mắt cười vui với đời. Nhắc đến Võ AnNinh, người ta nói đến “con người của phong cảnh”. Song dấu ấn làm nên tên tuổi Võ An Ninh là bộ ảnh nạn đói năm Ất Dậu 1945. Theo cụ, bộ ảnh đó đượcgửi vào Sài Gòn, trưng bày trên phố Catinat (đường Đồng Khởi hiện nay), và cụ thấm thía nghĩa đồng bào.

Cụ nói: “Ngày ấy, bà con Sài Gòn đã tích cực đóng góp tiền của, lương thực, thực phẩm cứu đói kịp thời. Miếng khi đói, gói khi no / Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng”. Nhìn cụ già tóc bạc phơ, thả dài tận vai xúc động khi ngâm ngợi những câu thơ này,tôi và lão họa sĩ Tú Duyên cũng xúc động theo.

Biết tôi là người viết lách,cụ Võ khuyên tôi phải đắm say với nghề thì nghề không phụ. Cụ kể, để được bức ảnh Sapa như mọi người đã biết, cụ phải lên xuống Sapa khoảng bốn chục lần, từng đứng lên yên ngựa, vươn qua hàng rào thưa chọn góc độ đẹp để bấm máy hoặc ngồi “rình” cả tuần liền để “chớp” được khoảnh khắc cả Sapa trong biển mây trắng bồng bềnh...

Có yêu nghề mới thấy nghề cao quý và mới chinh phục được sự khó tính của con người. Văn chương cũng thế, đối thoại như thế là vừa, nếu thêm một câu có khi nghệ thuật đổ vỡ; tả cảnh như vậy và đến đó thì gợi được những tình ý mong muốn, nhưng kéo dài thêm một câu nữa, có khi cả đoạn văn sụp đổ. Chụp ảnh cũng như các bộ môn nghệ thuật khác, ai “ngộ” được thì thành công. Lão họa sĩ Tú Duyên thú lắm và tôi cũng học được bài học này.
Mọi chuyện đều tùy duyên:

Cơ duyên tôi gặp được nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh là vào năm 1996 tại nhà lão họa sĩ Tú Duyên. Một người tập trung tinh thần vẽ theo lối thủ ấn họa, một người vừa nhìn vừa bình phẩm. Nhìn tuổi trời của hai cụ, nhất là cụ Võ (cụ Tú Duyên nhỏ hơn cụ Võ gần hai mươi tuổi), tôi hiểu hai cụ đang sống, được sống vui vẻ với convới cháu, không hề gặp phải những bi kịch gia đình. Với tôi, đó là thứ lộc trời dành cho mỗi người, không phải ai muốn là được.

Tính tôi thích thú những bức ảnh: Xe tay ngoài Thanh - 1935, Vịnh Hạ Long nhìn từ núi Bài Thơ- 1955, Gò Đống Đa - 1942... Với bức ảnh Xẻ gỗ trên bãi sông Hồng, tôi nói với cụ là rất giống với cảnh xẻ gỗ bên bến sông Vu Gia, quê tôi. Nhưng bức ảnh Bữa cơm trước khi ngược sông Lô - 1968, dường như cụ chú thích chưa trúng lắm. Cả cụ và lão họa sĩ Tú Duyên nhìn tôi. Tôi nói, bức ảnh đặc tả hai chiếc thuyền mui cắm sào bên bến sông, trên bãi cát ven sông, vài ba người ngồi bên bếp lò đang đỏ lửa, khói phả theo chiều gió...Tôi nghĩ, đây là lúc người ta “chuẩn bị bữa cơm” đúng hơn là “bữa cơm”. Cả hai đều gật gù.

Tôi hứng chí nói thêm: “Bức ảnh Sàng gạo, cụ chụp ở Phú Thọ năm 1965 rất đẹp, toát lên được công việc của các bà các chị, nhưng theo cháu, đó là công việc sảy gạo chứ không phải sàng gạo, vì tư thế các bà các chị là tư thế sảy bằng nia. Sàng gạo là phải dùng sàng chứ không thể dùng nia. Cụ Võ gật gù. Cụ Tú Duyên khen tôi rành việc nhà nông và xé tờ giấy trong tập giấy trắng bằng nửa cuốn vở học trò, đưa tôi: “Đây là tác phẩm Say mê, tôi tặng anh” (ký họa này, tôi đưa vào bìa 4 cuốn sách của tôi: Hoàng Đạo - Nhà báo, nhà văn, 1997).

Cụ Võ nhìn lướt qua và khen: “Đẹp đấy! Chỉ mấy nét mà đã toát lên được tinh thần của anh. Tiếc rằng, hôm nay tôi không mang theo máy ảnh. Nếu có thì tôi cũng sẽ chụp biếu anh một kiểu, nhưng mọi chuyện đều tùy duyên chứ chẳng phải lúc nào cũng làm được theo ý mình”...
Ngày xưa, biết bao người dành cả đời tu luyện thuật trường sinh; biết bao vị hoàng đế cũng vì muốn sốngthọ trăm tuổi trời mà làm nên bao điều bạo ngược, song chẳng ai bén gót đượccụ. Gần trăm năm qua, cụ “tu luyện thuật trường sinh” bằng sự yêu đời, bằng hạnh phúc gia đình, bằng nghề nghiệp mà cụ đã chọn, đã yêu...

Nghe tin cụ ra đi, lòng cháu tuy có buồn nhưng cũng mừng cho cụ đã sống xuyên hai thế kỷ, thấy được bàcon mình không còn cảnh đói như năm Ất Dậu, thấy được con cháu đã thànhngười hữu dụng cho xã hội... Xin nghiêng mình tiễn biệt cụ - nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh.

(Linh | Theo Vu Gia)

VĨNH BIỆT "CON NGƯỜI CỦA PHONG CẢNH"

Gần trăm năm qua, nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh “tu luyện thuật trường sinh” bằng sự yêu đời, bằng hạnh phúc gia đình, bằng nghề nghiệp mà cụ đã chọn, đã yêu...

Mười mấy năm trước, bạn bè tặng tôi cuốn sách Ảnh Võ An Ninh. Những bức ảnh trong sách đã thực sự cuốn hút tôi. Tôi không ngờ, ảnh chụp lại đẹp như tranh và mới biết thế nào “ngoài trời còn có trời”.

Có yêu nghề mới thấy nghề cao quý

Cách nay mấy năm, tôi nghe tin sức khỏe cụ không tốt, ban lễ tang, điếu văn, thông cáo báo chí... đã được chuẩn bị sẵn, nhưng cụ lại mở bừng mắt cười vui với đời. Nhắc đến Võ An Ninh, người ta nói đến “con người của phong cảnh”. Song dấu ấn làm nên tên tuổi Võ An Ninh là bộ ảnh nạn đói năm Ất Dậu 1945. Theo cụ, bộ ảnh đó được gửi vào Sài Gòn, trưng bày trên phố Catinat (đường Đồng Khởi hiện nay), và cụ thấm thía nghĩa đồng bào. Cụ nói: “Ngày ấy, bà con Sài Gòn đã tích cực đóng góp tiền của, lương thực, thực phẩm cứu đói kịp thời. Miếng khi đói, gói khi no / Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng”. Nhìn cụ già tóc bạc phơ, thả dài tận vai xúc động khi ngâm ngợi những câu thơ này, tôi và lão họa sĩ Tú Duyên cũng xúc động theo.

Biết tôi là người viết lách, cụ Võ khuyên tôi phải đắm say với nghề thì nghề không phụ. Cụ kể, để được bức ảnh Sapa như mọi người đã biết, cụ phải lên xuống Sapa khoảng bốn chục lần, từng đứng lên yên ngựa, vươn qua hàng rào thưa chọn góc độ đẹp để bấm máy hoặc ngồi “rình” cả tuần liền để “chớp” được khoảnh khắc cả Sapa trong biển mây trắng bồng bềnh... Có yêu nghề mới thấy nghề cao quý và mới chinh phục được sự khó tính của con người. Văn chương cũng thế, đối thoại như thế là vừa, nếu thêm một câu có khi nghệ thuật đổ vỡ; tả cảnh như vậy và đến đó thì gợi được những tình ý mong muốn, nhưng kéo dài thêm một câu nữa, có khi cả đoạn văn sụp đổ. Chụp ảnh cũng như các bộ môn nghệ thuật khác, ai “ngộ” được thì thành công. Lão họa sĩ Tú Duyên thú lắm và tôi cũng học được bài học này.

Mọi chuyện đều tùy duyên

Cơ duyên tôi gặp được nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh là vào năm 1996 tại nhà lão họa sĩ Tú Duyên. Một người tập trung tinh thần vẽ theo lối thủ ấn họa, một người vừa nhìn vừa bình phẩm. Nhìn tuổi trời của hai cụ, nhất là cụ Võ (cụ Tú Duyên nhỏ hơn cụ Võ gần hai mươi tuổi), tôi hiểu hai cụ đang sống, được sống vui vẻ với con với cháu, không hề gặp phải những bi kịch gia đình. Với tôi, đó là thứ lộc trời dành cho mỗi người, không phải ai muốn là được. Tính tôi thích thú những bức ảnh: Xe tay ngoài Thanh- 1935, Vịnh Hạ Long nhìn từ núi Bài Thơ - 1955, Gò Đống Đa - 1942... Với bức ảnh Xẻ gỗ trên bãi sông Hồng, tôi nói với cụ là rất giống với cảnh xẻ gỗ bên bến sông Vu Gia, quê tôi. Nhưng bức ảnh Bữa cơm trước khi ngược sông Lô - 1968, dường như cụ chú thích chưa trúng lắm. Cả cụ và lão họa sĩ Tú Duyên nhìn tôi. Tôi nói, bức ảnh đặc tả hai chiếc thuyền mui cắm sào bên bến sông, trên bãi cát ven sông, vài ba người ngồi bên bếp lò đang đỏ lửa, khói phả theo chiều gió... Tôi nghĩ, đây là lúc người ta “chuẩn bị bữa cơm” đúng hơn là “bữa cơm”. Cả hai đều gật gù. Tôi hứng chí nói thêm: “Bức ảnh Sàng gạo, cụ chụp ở Phú Thọ năm 1965 rất đẹp, toát lên được công việc của các bà các chị, nhưng theo cháu, đó là công việc sảy gạo chứ không phải sàng gạo, vì tư thế các bà các chị là tư thế sảy bằng nia. Sàng gạo là phải dùng sàng chứ không thể dùng nia. Cụ Võ gật gù. Cụ Tú Duyên khen tôi rành việc nhà nông và xé tờ giấy trong tập giấy trắng bằng nửa cuốn vở học trò, đưa tôi: “Đây là tác phẩm Say mê, tôi tặng anh” (ký họa này, tôi đưa vào bìa 4 cuốn sách của tôi: Hoàng Đạo- Nhà báo, nhà văn, 1997). Cụ Võ nhìn lướt qua và khen: “Đẹp đấy! Chỉ mấy nét mà đã toát lên được tinh thần của anh. Tiếc rằng, hôm nay tôi không mang theo máy ảnh. Nếu có thì tôi cũng sẽ chụp biếu anh một kiểu, nhưng mọi chuyện đều tùy duyên chứ chẳng phải lúc nào cũng làm được theo ý mình”...

Ngày xưa, biết bao người dành cả đời tu luyện thuật trường sinh; biết bao vị hoàng đế cũng vì muốn sống thọ trăm tuổi trời mà làm nên bao điều bạo ngược, song chẳng ai bén gót được cụ. Gần trăm năm qua, cụ “tu luyện thuật trường sinh” bằng sự yêu đời, bằng hạnh phúc gia đình, bằng nghề nghiệp mà cụ đã chọn, đã yêu... Nghe tin cụ ra đi, lòng cháu tuy có buồn nhưng cũng mừng cho cụ đã sống xuyên hai thế kỷ, thấy được bà con mình không còn cảnh đói như năm Ất Dậu, thấy được con cháu đã thành người hữu dụng cho xã hội... Xin nghiêng mình tiễn biệt cụ - nhà nhiếp ảnh lão thành Võ An Ninh.

Người chép sử bằng ảnh

“Cây đại thụ” của làng nhiếp ảnh VN - Võ An Ninh - đã qua đời vào ngày 4-6 tại nhà riêng, hưởng thọ 103 tuổi. Võ An Ninh sinh ngày 18-6-1907, tại Hà Nội. Quê Bình Giang, Hải Dương. Võ An Ninh không chỉ là nghệ sĩ của phong cảnh mà còn là người chép sử bằng ảnh, trong đó nổi tiếng nhất là bộ ảnh ghi lại nạn đói năm 1945.

Võ An Ninh là một trong sáu nhà nhiếp ảnh Việt Nam đầu tiên được vào Phủ Chủ tịch chụp chân dung Bác Hồ. Ông cũng là người ghi lại được khá nhiều hoạt động của Hồ Chủ tịch trong những ngày đầu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhất là những bức ảnh ông chụp Bác Hồ trong ngày 2-9-1945. Sau ngày Hà Nội hoàn toàn giải phóng, ông chuyển sang ngành điện ảnh.  Ở cương vị nào, ông cũng không quản gian khổ, hy sinh,  tâm huyết vì nghệ thuật. Ông đã ghi lại vô số hình ảnh sinh động về đất nước, con người Việt Nam. Tác phẩm của ông cũng đạt được nhiều giải thưởng nhiếp ảnh ngoài nước: Giải thưởng ngoại hạng triển lãm ảnh Paris-Pháp, huy chương đồng triển lãm ảnh quốc tế tại Liên Xô, bằng khen của triển lãm ảnh quốc tế BIFOTA...

Năm 1975, ông được tặng danh hiệu Người công dân TPHCM và là công dân số một của đất mỏ Quảng Ninh. Ông được Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng I, Huân chương Kháng chiến hạng I... Năm 1976, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Phóng sự ảnh về hoạt động của Bác Hồ (1945-1946), Phóng sự ảnh về thanh niên và nhân dân Sài Gòn đấu tranh chống Mỹ (1950).

Linh cữu nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh quàn tại nhà riêng, số 164 Ngô Gia Tự, P.9, Q.10 - TPHCM. Lễ viếng bắt đầu lúc 8 giờ ngày 6-6. Lễ truy điệu lúc 7 giờ ngày 9-6, sau đó đưa đi an táng tại Long Thành, Đồng Nai. 

(Vu Gia)