TÚ DUYÊN :: THỦ ẤN HỌA

A dedicated website has been launched by a fan. Created to highlight the work of woodblock printmaking, an art form and prints of highest artistic stage by Vietnamese artist Tu-Duyen!

“…Thủ ấn họa đã tạo nên những bức tranh tuyệt mỹ khiến người coi cảm thấy có những sắc màu riêng biệt thích hợp với tâm trạng từng lúc, từng khi. Cái đó là do theo nguồn cảm hứng của họa sĩ tạo nên. Họa sĩ ấy là ai? Là TÚ DUYÊN vậy…”

Wednesday, May 30, 2007

GẶP NGƯỜI BÁN TRANH CHO "VUA DẦU LỬA" MỸ

Họa sĩ Tú Duyên sinh năm 1915 tại làng gốm Bát Tràng (Bắc Ninh). Ông vào trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1935 nhưng phải học đến 3 năm lớp dự bị. Năm 1939, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Tú Duyên là người đã tìm ra kỹ thuật thủ ấn họa có một không hai ở Việt Nam.

 Tú Duyên tên thật là Nguyễn Văn Duyến, ông có một người bạn rất thân chuyên vẽ chân dung là Đỗ Văn Tư, người làng thêu Hướng Dương (Hà Đông). Khi vào Nam, nhớ bạn nên ông ký tên là Tứ Duyên (đọc lái Duyến Tư), nhưng do người Pháp không đọc được chữ "Tứ" nên lâu ngày bút danh này trở thành Tú Duyên. Trong sáng tác, Tú Duyên chọn kỹ thuật in mộc bản làm sở trường của mình.

Kỹ thuật in mộc bản đã có từ rất lâu ở các nước Á Đông, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, tranh làng Hồ nổi tiếng cũng được thực hiện bằng kỹ thuật này. Nhưng để in được một bức tranh 10 màu trơn, cần phải có 10 bản khắc (mỗi bản một màu). Từ năm 1940, Tú Duyên đã miệt mài nghiên cứu, tìm cách cải tiến kỹ thuật in tranh mộc bản. Cuối cùng, ông đã tìm ra một kỹ thuật mới mà ông đặt tên là thủ ấn họa.

Với kỹ thuật này, ông chỉ cần 2 bản khắc (bản âm và bản dương) là có thể thể hiện một không gian màu sắc vô cùng phong phú. Dụng công của họa sĩ là dùng 10 đầu ngón tay để pha trộn, bố trí màu dày mỏng, đậm nhạt cho bức tranh trên bản khắc, sau đó đặt lụa lên, xoa, ấn, vuốt, dập... Bức tranh in ra mỗi bản mỗi khác, vừa có vẻ đẹp của mộc bản vừa uyển chuyển, ảo huyền mà ngọn bút lông không tài nào diễn tả được. Tranh thủ ấn họa của Tú Duyên hết sức phóng khoáng, sinh động, toát lên được cái thần của cảnh, của vật, của người...
Khuyến Học
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Anh Ninh kể: "Năm 1952, tôi đã gặp Tú Duyênbẵng đi đến 1975 mới gặp lại sau ngày đất nước hòa bình. Tôi đã được quan sát nhiều lần kỹ thuật in ấn tranh làng Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) và lối mộc bản tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, mới nhận thấy được lối thủ ấn họa của Tú Duyên rất kỳ khu sáng tạo, tuy chỉ hai bản gỗ nhưng khi hoàn thành bức tranh, rất nhiều màu sắc hòa hợp bay bướm, huyền ảo ..." Học giả Nguyễn Hiến Lê cũng nhận xét: "Thủ ấn họa huyền ảo hơn vẽ, tôn tin rằng nhờ anh Tú Duyên mà nền nghệ thuật Việt Nam góp được một phần danh dự với nền nghệ thuật thế giới".
Cảm hứng nghệ thuật của Tú Duyên lấy từ kho tàng văn học Việt Nam (Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên...). Những không gian hoạt cảnh hội hè, đình đám: mái chùa, bến nước, cây đa của một làng quê quan họ như một hoài niệm đẹp và là nỗi ám ảnh khôn nguôi... Đặc biệt, Tú Duyên rất thích thể hiện những nhân vật lịch sử hào hùng mang truyền thống bất khuất của dân tộc: Thà làm quỷ nước Nam... (câu nói nổi tiếng của Trần Bình Trọng khi bị giặc bắt và bị Thoát Hoan dụ hàng: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!"), Thù cha con nhớ lo cho nước (lời của Nguyễn Phi Khanh dặn con Nguyễn Trãi ở ải Nam Quan khi vua tôi Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt giải về Tàu)...

Tranh thủ ấn họa của Tú Duyên không chỉ vang danh trong nước mà còn chu du đến nhiều quốc gia khác: Philippines, Pháp, Nhật, Malaysia, Bỉ... Trước 1975, "Vua dầu lửa" - tỉ phú Rockefeller (Mỹ) đã mua của Tú Duyên 2 bức Thà làm quỷ nước Nam và Khuyến học; Tòa đại sứ Miên (Campuchia) mua 5 bức Angkovat (hiện còn 1 bức duy nhất)... Tú Duyên còn có hơn 14 tác phẩm được lưu trữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM.

Thủ ấn họa là một loại hình lao động nghệ thuật nhọc nhằn. Năm 1996, tôi đến thăm xưởng vẽ của ông tại số 161 Nguyễn Công Trứ (Q.1, TP.HCM), thấy ông vẫn đeo một chiếc tạp dề lấm lem sơn màu để miệt mài sáng tác. Lúc đó dù đã 82 tuổi, ông vẫn đang cật lực chuẩn bị cho cuộc triển lãm lần thứ 18 của mình. Mới đây nhất, tôi có dịp ghé lại thăm ông, dù đã 93 tuổi ông vẫn tiếp tục sáng tác. Quả không hổ danh Đệ nhất thủ ấn họa Việt Nam.

(Hà Đình Nguyên | Việt Báo)

Saturday, June 3, 2006

NGÀY VĂN HÓA & Y TẾ CỘNG ĐỒNG TẠI SAN DIEGO

Lần đầu tiên Quận San Diego cũng tuyên bố ngày Thứ Bảy 3-6-2006 là Ngày Hiệp Hội Người Việt San Diego (Vietnamese Federation of San Diego Day). Đây thực là một vinh dự cho Hiệp Hội và cộng đồng. Vì vậy HH đã quyết định mời toàn thể đồng hương đến dự lễ tiếp nhận Quyết nghị này trong dịp lễ khai mạc Ngày Văn Hóa và Y tế Cộng Đồng. Hơn một trăm người đã đến tham dự trong không khí rất trang nghiêm, long trọng. Một phái đoàn từ Santa Ana cũng xuống chung vui với chúng ta. Xin độc giả đón đọc bản tường trình riêng về buổi lễ này.

Sinh hoạt văn hóa gồm có các bộ môn hội họa, nhiếp ảnh, nghệ thuật cắm hoa, non bộ và cây cảnh, dạ vũ và trình diễn văn nghệ. Mở đầu, họa sĩ Duyên Hà Lê Phục Thủy thuyết trình về đề tài “Hội Họa Việt Nam Xưa và Nay” trước một cử tọa chọn lọc. Ông nói: “Họa sĩ là người dùng thị giác làm phương tiện để thể hiện và truyền thông vẻ đẹp”. Ông đã trình chiếu gần 100 hình chụp các họa phẩm với lời thuyết minh.


Hội họa Việt Nam ngày xưa là các hình vẽ trong hang động, hình khắc trên trống đồng và bức chân dung của Nguyễn Trãi… Tiếp đến là các tranh dân gian gồm các tranh Hàng Trống thanh lịch, tranh Đông Hồ bình dân, tranh Làng Sình tân tiến. Hình họa trong 4000 bức của sưu tập Henri Oger mô tả cảnh sinh hoạt của dân ta vào đầu thế kỷ 20 một cách chính xác. Khán giả đã có dịp cười thoải mái với hai cảnh hoạt kê trong tranh Ðông Hồ “Ðánh ghen”. Trong bức thứ nhất, đứa con về phe bố, cố níu áo mẹ không cho cắt tóc bà vợ lẽ. Trong bức thứ hai, đứa con về phe mẹ đang ném đá vào bà dì ghẻ!

Sự thành lập Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đã thay đổi bộ mặt của hội họa Việt Nam. Họa sĩ tốt nghiệp từ trường này nhiều người nổi danh như Tô ngọc Vân, Giám Đốc người Việt đầu tiên thay thế GS Tardieu và đã tử trận khi tham gia trận Điện Biên Phủ năm 1954, Lê văn Đệ, Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật thời Việt nam Cộng Hòa, Lê Phổ có danh tiếng quốc tế, Tạ Tỵ nổi tiếng với tranh lập thể, Nguyễn gia Trí, người đã đưa tranh sơn mài lên mức nghệ thuật cao, cũng như các danh hoạ lừng danh một thời như Lê thị Lựu, Nguyễn phan Chánh, Trần văn Cẩn, Nguyễn tường Lân (Thạch Lam), Bùi xuân Phái…

Hội họa Việt Nam ngày nay được trình chiếu với tranh của các họa sĩ ở cả hai miền Nam, Bắc trước và sau 1975. Trước 1975, tại miền nam, Hội “Họa sĩ trẻ” và các cuộc “Triển lãm mùa xuân” là những sinh hoạt rất khởi sắc với các tên tuổi Nguyên Khai, Bé Ký, Hồ thành Ðức, Nguyễn thị Hợp, Nghiêu Ðề….Ðây cũng là nhóm họa sĩ nòng cốt sau này ở Hoa kỳ. Các danh họa Thái Tuấn, Nguyễn gia Trí, Tú Duyên …đã gây được sự chú ý trên trường quốc tế. Ngoài Bắc, số họa sĩ thuộc nhóm Trường Cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương cũ và các lớp trẻ ít có sáng tác xuất sắc vì phần lớn phải vẽ theo nhu cầu chính trị và thiếu phương tiện. Sau cùng họa sĩ Việt Nam ở hải ngoại cũng góp phần lớn trong việc phát triển hội họa Việt Nam cùng với lớp họa sĩ trẻ tại Việt Nam ngày nay.

Một số tranh của các lớp họa sĩ này như Nguyễn Việt, Hồ Anh, Ann Phong, Ðèo Chính Mung …tại Hoa kỳ và Lương xuân Ðoàn, Trần trọng Vũ, Trịnh công Sơn sinh sống tại Việt Nam cũng đã được trình chiếu. Vì thiếu tài liệu và thì giờ có hạn nên diễn giả đã xin lỗi không có dịp đề cập đến một số họa sĩ có danh tiếng như ViVi, Võ Ðình, Nguyễn Quỳnh, Ðinh Cường…

Sau cùng diễn giả đề cập đến những khó khăn trực diện họa sĩ : sự xuất hiện của ảnh đen trắng đã tước bỏ độc quyền mô tả ngoại giới bằnh hình ảnh và ảnh màu đã lấn át độc quyền dùng màu sắc của hội họa. Điện ảnh sống động lấn át vẻ đẹp trong tĩnh lặng của hội họa. Gần đây video còn mạnh hơn điện ảnh vì rẻ tiền và phổ biến hơn, cá nhân nào cũng sử dụng được. Cuối cùng máy điện toán có thể làm biến đổi các hình ảnh thực tế, cũng vẽ “ma” được như họa sĩ! Họa sĩ đã phải quay về với nội tâm để khám phá những khao khát vẻ đẹp muôn đời của con người, và diễn tả bằng những hình thức mới. Diễn giả nhận xét: “Nếu không có họa sĩ thì đời sống tẻ nhạt đến chừng nào!” nhận xét đó cũng áp dụng cho các nghệ sĩ thuộc bộ môn khác như nhiếp ảnh, điện ảnh, cắm hoa, âm nhạc….

Sau phần thuyết trình, hoạ sĩ Nguyễn Văn Mộch trình bày về cách in mộc bản của ông cha ta, rồi mời mọi người tự tay in những tranh mộc bản với những bản khắc gỗ, giấy bản và mực đen. Khán giả hưởng ứng nồng nhiệt. Dưới sự hướng dẫn của ông, những bức tranh thơm mùi mực đã được sáng tác để làm kỷ niệm mang về nhà trong niềm hân hoan của các “họa sĩ” mới ra nghề!

Hội trường Trụ sở Hiệp Hội cũng đã trang hoàng thật trang nhã với hơn 30 bình hoa tươi thắm trình bày rất nghệ thuật của các nghệ sĩ trong Hội Nghệ Thuật Cắm Hoa, các bà Lê Ngọc Châu, Hồng Phúc và Đào Giao Chi. Tham dự triển lãm hội họa kỳ này là các họa sĩ Vivi, Đơn Sa (Diễm Châu), Tạ Đức Ngây, Văn Mộch và Duyên Hà. Mỗi người một sắc thái: Tranh Vivi bố cục rất đẹp, màu sắc cổ kính. Đơn Sa thuần nhã. Tạ Đức Ngây vẽ bằng muội đèn rất “hiện thực”, dễ mến. Văn Mộch sử dụng ít màu sắc , tuy dùng sơn dầu mà phảng phất ý vị của tranh thủy mạc, đối lập hẳn với Duyên Hà dùng mầu sắc tươi vui diễn tả cảm xúc bén nhạy thoáng qua khi vẽ ngoài trời, tức cảnh sinh tình. Ảnh khá nhiều và mang tích chất nghệ thuật cao, phần lớn của các nhiếp ảnh gia thân hữu của ông Lê công Nghiệp như Thái Đức Nhã... Ngoài ra ông Nguyễn văn Vĩnh cũng trình bày nhiều hòn Non bộ và cây cảnh rất công phu.

Ngày thứ bảy kết thúc bằng một buổi dạ vũ rất thành công với trên 300 người tham dự, trong số có nhiều sinh viên trẻ. Vào cửa miễn phí, với thiệp mời của Hiệp Hội dành cho tất các đồng hương nào muốn dự dạ vũ. Không khí thật tưng bừng và hoàn toàn thanh lịch. Hai ban nhạc The Rose và SilverSound chơi nhạc “tour” chen lẫn các bản nhạc dành cho tuổi trẻ rất đặc sắc. Ngoài tiếng nhạc hào hứng, dạ vũ thành công lớn cũng nhờ tiếng hát điêu luyện của các ca sĩ Tuấn Anh, Thanh Hằng, Thanh Trúc, Thúy Vân, Thu Hồng, Thi Nga, Thy Tự, Dương Nghi, Minh Tuấn…Dạ vũ khai mạc đúng giờ từ 8:30 tối.

Trong nửa giờ giải lao, kỹ sư Trần Hùng Tiết, Trưởng ban tổ chức đã trình bày việc tái hoạt động của đài truyền hình VIET-PBS trên băng tầng 19, Time Warner Cable, từ 6:30-7:00 tối thứ tư và chủ nhật kể từ 11 tháng 6 năm 2006. Ngoài ra, Các người tham dự dạ vũ cũng có dịp thưởng thức các bình hoa nghệ thuật, tranh, ảnh, non bộ và cây cảnh tại hội trường.

Dạ vũ kết thúc vào lúc 12:00 giờ đêm trong sự hân hoan của mọi người, hẹn tái ngộ tại Trụ sở Hiệp Hội trong lần dạ vũ tới, có lẽ vào thu khi thời tiết đã mát mẻ.

Ngày chủ nhật 4-6-2006 có hai sinh hoạt chính đã thành công mỹ mãn. Ngày Y tế Cộng Ðồng với trên 300 đồng hương tham dự và buổi trình diễn văn nghệ Vương Màu Kỷ Niệm 2 với hơn 100 người yêu thích văn nghệ. Xin đón xem các bài tường trình riêng về Ngày Y tế và buổi trình diễn văn nghệ.

(Lê Phục Thủy)

Wednesday, February 22, 2006

HỌA SĨ TÚ DUYÊN

Tác phẩm: Đờn ca
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 74 cm x 44 cm
Năm sáng tác:  1963
Năm sưu tầm: 20/10/1993

Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho tại làng cổ Bát Tràng, Bắc Ninh, từ nhỏ cậu bé Nguyễn Văn Duyến (tên thật của họa sĩ Tú Duyên) rất thích vẽ. Năm 1935, khi 20 tuổi, ông theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1939, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Thời gian đầu vào Nam, ông vẽ tranh cho các báo, vẽ tranh lụa… đến 1942 mới bắt đầu vẽ thủ ấn họa. Tú Duyên là người đã tìm ra kỹ thuật thủ ấn họa có một không hai ở ViệtNam.

Yêu thích tranh dân gian Đông Hồ từ bé, bị cuốn hút bởi những hình ảnh vui tươi, gần gũi, khoáng đạt của người dân quê hồn hậu qua bản khắc gỗ thật đẹp nên ông quyết tâm chọn một con đường riêng gắn với tranh dân gian mà sau nhiều nghiên cứu, tìm kiếm mới hình thành nên thủ ấn họa.

Tác phẩm: Trần Bình Trọng
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 90 cm x 50 cm
Năm sáng tác:  1959
Năm sưu tầm: 20/10/1993



Để thực hiện một bức tranh dân gian Đông Hồ, tranh có bao nhiêu màu thì phải có bấy nhiêu bản khắc gỗ, và đều là các bản dương. Với thủ ấn họa, chỉ dùng một bản âm và một bản dương, họa sĩ sử dụng ngón tay, lòng bàn tay, cạnh tay để xoa màu trên bản khắc rồi đặt lụa lên, mặt âm làm phông, sau đó dùng mặt dương để nhấn thêm rồi xoa, ấn, vỗ, miết… trên mặt lụa cho thấm màu. Mỗi bản tranh làm theo lối thủ ấn họa lại có màu sắc đậm nhạt, dày mỏng khác nhau tùy theo sự điều chỉnh linh hoạt của họa sĩ.

Ba chủ đề chính là nguồn cảm hứng cho tranh của Tú Duyên:
- Những nhân vật lịch sử. Điển hình như bức “Thà làm quỷ nước Nam.”
- Từ ca dao, các tác phẩm cổ văn, như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm Khúc... Điển hình là những bức tranh, bây giờ còn nhiều người nhớ tới, như bức “Chẳng ham vựa lúa anh đầy- Tham năm ba chữ cho tầy thế gian (ca dao). Hoặc “Mai cốt cách tuyết tinh thần” (Kim Vân Kiều - Cùng 29 bức khác, cũng đi ra từ Truyện Kiều...).
- Phụ nữ Việt Nam.  

Họ và tên: Nguyễn Văn Duyến. Bút danh: Tú Duyên
Năm sinh: 20/12/1915. Nguyên quán: Bát Tràng, Hà Nội

Thân thế sự nghiệp:
Tác phẩm: Ngày hội
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thướcc: 47 cm x 108 cm
Năm sáng tác:  1960
Năm sưu tầm: 25/12/1998
- 1935 – 1938: học tại trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, chuyên khoa  Hội họa. Hiệu trưởng: ông Victor Dieu (người Pháp). Giáo viên chuyên môn: ông Nguyễn Văn Thọ (cụ Nam Sơn). Cùng khóa với Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Sỹ Ngọc, Nguyễn Thị Kim…

- Năm 1938: làm nghề thợ vẽ ở số 36 Đường Phố Mới - Hà Nội.

- Năm 1939: vào Sài Gòn ở tại số 150, đường Gia Long. Làm nghề vẽ báo và vẽ quảng cáo. Trong thời gian này, tác giả lấy bút danh là Tứ Duyên, đây là sự kết hợp giữa tên tác giả và một người bạn cùng làm chung tên là Đỗ Văn Tư. Sau vì chữ Tứ Duyên hơi khó đọc đối với người ngoại quốc lúc bấy giờ nên quen miệng mọi người đọc trại ra là Tú Duyên cho đến nay.

Tác phẩm: Tiễn chồng
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 32 cm x 86 cm
Năm sáng tác:  1954
Năm sưu tầm: 20/10/1993
- Năm 1945: tham gia mặt trận giải phóng miền Nam ở Mỹ Tho (Tiền Giang) dưới quyền của anh Phạm Văn Đặng (anh Đặng là người gốc Gò Công, công tác ở mặt trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang).

- Năm 1946: về Thủ Dầu một vừa vẽ, vừa làm công tác tuyên truyền (dưới quyền anh Vũ Duy Hanh).

- Năm 1947: vì là người ở thành phố nên tác giả được phân công ra đường lộ để công tác tuyên truyền văn hóa, được khoảng hơn 01 tháng thì bị địch bắt cùng với Bùi Thanh Khiết, Lưu Nguyên Tụng; 04 tháng sau thì được thả về Sài Gòn tiếp tục làm nghề vẽ và vẽ báo.

- Năm 1949: ở Sài Gòn tại số 30, trên lầu đường Reim (nay là đường Lê Công Kiều). Địa chỉ của tác giả là thùng thư của tỉnh Thủ Dầu Một, do cô Nguyễn Thị Kim (gọi là cô Tám) là liên lạc viên của mặt trận Tổ quốc tỉnh Thủ Dầu Một làm liên lạc viên.

Tác phẩm: Đánh ghen
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 32 cm x 32 cm
Năm sáng tác:  1952
Năm sưu tầm: 20/10/1993
- Năm 1952: liên lạc được với Ban binh vận do Trần Văn Thịnh (bí danh Hà Thanh, Tám Dũng, Ba Tựu) là trưởng ban. Thời điểm này, tác giả vừa dạy vẽ ở trường Mỹ thuật Gia Định, vừa tiếp tục phát huy môn thủ ấn họa của riêng tác giả.

Các giải thưởng:
- Huy chương danh dự của Hội Văn học miền Nam (thập niên 60).
- Huy chương “Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam” của Hội Mỹ thuật Việt Nam (1997).
- Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1999).

Tác phẩm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM: 09 tranh thủ ấn họa trên lụa, 52 bản khắc gỗ.

Thursday, June 16, 2005

Saturday, March 5, 2005

NHỮNG CÂY CỌ KHÔNG GIÀ THEO NĂM THÁNG

Lần thứ hai trong những năm đầu thế kỷ 21, CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi đã tổ chức Triển lãm hội họa tại Hội Mỹ Thuật TP.

Năm nay, với sự đầu tư của TP cũng như với sự chăm sóc chu đáo của Hội Mỹ Thuật TP. HCM, cuộc triển lãm của CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi (NCT) đã qui tụ được 59 tác giả và 87 tác phẩm.

Theo anh Huỳnh Phương Đông, chủ nhiệm CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi, sắp tới Hội Mỹ Thuật TP sẽ tổ chức một trại sáng tác và đã có 12 họa sĩ tóc bạc đăng ký tham gia. Đây là những họa sĩ đã có thành tích “sống chết với nghề”, các anh chịu đi, chịu sáng tác dù có khó khăn về sức khỏe và cả về kinh phí. Tuy vậy có những trại sáng tác ở rất xa thành phố, các anh cũng không ngại thời tiết nắng mưa ấm lạnh vẫn khoác balô giá vẽ lên đường như những đồng nghiệp tuổi trẻ. Có anh không những chỉ dự một trại mà còn đi dự những đợt trại liên tiếp để thu vào bản vẽ những phác thảo về đất nước, cuộc sống và con người của nhiều địa phương khác nhau.

Để trở thành thành viên của CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi, các họa sĩ phải ở độ tuổi từ 60 trở lên và người cao tuổi nhất trong CLB này chính là họa sĩ Tú Duyên 89 tuổi. Dù các anh đã bị năm tháng làm hao mòn sức lực nhưng sự đam mê sáng tạo nghệ thuật thì vẫn chưa hề mai một. Những dịp lễ lớn của quốc gia như lễ 30/4, Quốc khánh 2.9, các họa sĩ cao tuổi đều có tranh triển lãm chào mừng. Các anh cũng không ngại tuổi già sức yếu đã cùng các đồng nghiệp trẻ đi thực tế, tham dự các trại sáng tác. Sự có mặt “trên từng cây số” của các anh trong CLB Họa Sĩ Người Cao Tuổi đã cho thấy tuổi tác không ngăn được niềm say mê lao động nghệ thuật. Năm tháng dường như chỉ lấy đi được nơi các anh một phần thể lực chứ bút lực thì dường như còn nguyên đó sự điêu luyện già dặn. Hình như thời gian phía trước càng ngắn đi, các anh càng tha thiết hơn với cuộc sống, chính đó là ngọn lửa sáng bừng cháy của sức sáng tạo.

(Văn Hóa Nghệ Thuật)

Saturday, February 5, 2005

TRANH GÀ NĂM DẬU

32 hoạ sĩ của Hội mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh đón chào năm Ất Dậu bằng 47 bức tranh gà. Gà là con vật rất gần gũi với con người nên từ ngàn xưa đã là đề tài cho hội họa đến bây giờ.

Với đề tài gà nhưng mỗi tác giả thể hiện theo cách nghĩ, theo lối vẽ sở trường của mình. Xem tác phẩm Chọi Gà của Phan Mai Trực, tác giả vẽ chàng thanh niên cầm gà lên ngắm nghía, nhiều người ở thành phố không hiểu vì sao như vậy là chọi gà. Nhưng với người từng xem chọi gà thì thấy đây là một thao tác trong trò chọi gà. Tranh mô tả người chơi gà đang “vô nước” cho gà giữa hai hiệp đấu mà đỏ mặt tía tai, hy vọng gà mình thắng. Cùng một ý nghĩ này, nhưng phong cách trình bày phảng phất nét tranh dân gian, Lê Xuân Chiểu trên tranh khắc giấy lại thể hiện hai đứa trẻ đang ôm hai con gà chọi chuẩn bị cho trận thư hùng trong bức Vào Hội. Còn dùng sơn dầu để mô tả nét văn hoá truyền thống thì Vũ Trung Lương có bức Hùng Kê Quyền và Phạm Thanh Tâm có bức Con Gà Tò He - món đồ chơi tượng hình gà được làm bằng bột có tô màu dành cho trẻ con.

Mượn hình ảnh gà để thể hiện tình cảm gia đình, người ta thấy có bức tranh sơn dầu Gia Đình Gà của Ngô Túy Phượng. Nhìn tranh của anh người ta thấy đồng quê, một màu xanh thanh bình qua nét vẽ mộc mạc. Bức Gà Trống Nuôi Con tranh vi tính của Mai Ngọc Sương, chủ đề quen thuộc được thể hiện bởi phong cách hiện đại. Hai tác phẩm tranh giấy dán Tình Bạn của Đặng Thị Dươn và Mừng Năm Mới của Nguyên Vũ góp phần làm phong phú thể loại cho hội tranh gà tuy chưa được tinh xảo lắm. Nguyễn Ngọc Quế mô tả gia đình gà có ba con và anh cho đó là hạnh phúc. Có lẽ đối với gà, ba con là tiêu chuẩn của kế hoạch hoá gia đình!

Tính cách của họ nhà “kê”

Bức tranh sơn dầu Gà Trống của Lê Hiếu có lẽ là lớn nhất (1,5 m x1,5 m) trong số tranh gà năm Ất Dậu. Anh chọn màu đỏ và vàng làm chủ đạo phù hợp với nét xuân rực rỡ. Dáng gà trống kênh kiệu như phụng múa. Cùng khắc họa Gà Trống, họa sĩ Phạm Ngọc Nga đã vẽ cả bốn chú gà trống đang ăn lúa trong thúng, hoà bình và thân ái, nói lên cá tính gà trống không phải lúc nào cũng hăm hở đá nhau. Tính cách gà được thể hiện nhiều nhất qua các tranh thuỷ mặc của các tác giả Trương Hán Minh, Lý Khắc Phục. Với sở trường của mình , hoạ sĩ Trương Hán Minh đã biểu diễn nét bút qua bức Kim Kê Hí Điệp, trong đó đôi bạn gà đang đùa giỡn với bướm, cảnh yên bình thường thấy trong những buổi sáng ở thôn quê, khi mặt trời đã lên cao. Lý Khắc Phục cũng dùng hai màu trắng đen làm chủ đạo nhưng có thêm hai màu đỏ và vàng để làm rõ mào gà và chân, mỏ gà, đưa hình tượng bầy gà trống hướng về một hướng để rồi gắn lên tiêu đề bức tranh là Kết Đoàn. Lão họa sĩ Tú Duyên, một thời nổi tiếng với thủ ấn họa, nay cũng góp phần với tác phẩm Giặc Đến Nhà, mô tả chị gà mái hùng dũng chống lại đàn diều hâu, bảo vệ các con.

 Chào xuân

Tranh gà nhưng có pha nét xuân nhiều nhất là tranh thủy mặc. Nào là Nghênh Xuân của Trần Văn Hải, Hót Xuân của Trương Hán Minh và Nhịp Điệu Chào Xuân của Lý Khắc Nhu, mỗi tranh mỗi vẻ, nhưng gây ấn tượng cho người xem là Nhịp Điệu Chào Xuân, mô tả một đàn gà cùng nhảy bước nhịp nhàng, sử dụng ít nét giản đơn nhưng hiệu quả cao! Các họa sĩ theo trường phái trừu tượng, lập thể cũng làm cho người xem thích thú vì phải động não như các tranh Gà Mái, Gà Vàng của Uyên Huy, Năm Dậu của Lê Triều Điển. Gà Vàng còn chứa thêm tính cách thời sự khi chung chủ thể gà bị bao vây bởi virus H5N1. Hội tranh gà với chủ đề rõ ràng như thế, nhưng hoạ sĩ Trịnh Thanh Tùng vẫn cố tình “xổ lồng” qua 2 bức vẽ thiếu nữ khỏa thân ôm gà và đặt tên cho hai bức là Gà Đất và Gà Rừng, nghe có vẻ ngây thơ, nghiêm túc.

Lương Minh

THE ART'S COLLECTION


In the mid 1980's, at a time when Vietnam remained largely closed to the outside world and was still recovering from decades of war. The collection has been carefully developed to include the leading artists from each of the 4 generations since the establishment of the original Ecole Superieure des Beaux-Arts de L'Indochine (Fine Arts College of Indochina) founded by the liberal-minded French artist Victor Tardieu in 1925. 

The first generation covers those artists who studied at the French-influenced college between 1925-1945; the second generation covers the war years from 1945-1975; the third generation covers Vietnam's socialist realism period of 1975-1986; and the fourth generation covers the period from the country's initiation of its Đời Mới "renovation" policies in 1986 to the present day.

Artists represented in this collection include: Nguyen Gia Tri, Bui Xuan Phai, Nguyen Sang, Nguyen Tu Nghiem, Nguyen Tien Chung, Tu Duyen, Nguyen Xuan Viet and my others. 

Tu Duyen was one of the first generation of artists to study at the Ecole Superieure des Beaux-Arts de L'Indochine in Hanoi from 1936-1939. Early in his career, Tu Duyen invented a new painting technique known as "hand-stamping on silk". The image is initially hand-carved on to two separate wooden plates, which are then painted using the artist's fingers. The two plates are then sequentially imprinted on to silk to create the resulting painting, which is hand-signed by the artist.