TÚ DUYÊN :: THỦ ẤN HỌA

A dedicated website has been launched by a fan. Created to highlight the work of woodblock printmaking, an art form and prints of highest artistic stage by Vietnamese artist Tu-Duyen!

“…Thủ ấn họa đã tạo nên những bức tranh tuyệt mỹ khiến người coi cảm thấy có những sắc màu riêng biệt thích hợp với tâm trạng từng lúc, từng khi. Cái đó là do theo nguồn cảm hứng của họa sĩ tạo nên. Họa sĩ ấy là ai? Là TÚ DUYÊN vậy…”

Sunday, September 30, 2007

TANG LỄ CỐ HỌA SĨ THÁI TUẤN

Trở lại chuyện Sài Gòn trong những ngày vừa qua, đối với những người làm và yêu văn học nghệ thuật, sự ra đi của họa sĩ  Thái Tuấn, “cây đại thụ” của hội họa VN là một mất mát lớn. Suốt cuộc đời ông không làm gì khác ngoài hội họa. Ông đã 90 tuổi và vẽ cho đến khi từ giã “cuộc chơi”, từ biệt bạn bè, vĩnh biệt người ái mộ. Xin dành một vài trang này để tưởng nhớ về ông.

Suốt cuộc đời chỉ biết vẽ
Con Gái
Tang lễ cố họa sĩ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão làng” về nơi an nghỉ cuối cùng. Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn .Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Họa sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ”, cũng như những hàng cây cổ thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm1954, đã nhìn thấy trên những con đường đẹp nhất “đô thành” thời bấy giờ.
Ông hoạt động liên tục từ khi ở miền Bắc “di cư” vào miền Nam. Sau năm 1975, ông cũng như hàng triệu người Việt Nam khác, tìm đường ra nước ngoài định cư. Ông qua Pháp và vẫn tiếp tục sáng tác. Suốt cuộc đời ông không làm gì ngoài nghệ thuật, không biết gì đến những công việc khác ngoài việc vẽ tranh. Năm 2006, ông trở lại Việt Nam và lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Ông trở lại sống trong căn nhà ở “tuốt tắp” trong con hẻm nhỏ giữa đường Yên Đổ, nơi ông đã sống từ những ngày trước đây. (Xin mở ngoặc là chẳng biết cụ Tam Nguyên Yên Đổ mắc tội gì, bây giờ con đường Yên Đổ đã đổi thành đường Lý Chính Thắng. Xin bạn đọc nhớ kỹ kẻo lầm).

Nhà ông là một ngôi nhà khó tìm nhất trong những căn nhà ở Sài Gòn. Nhờ bất cứ ai chỉ đường vào nhà ông, chắc khó mà chỉ được. Lỗi ngõ quanh co, quẹo trái, rẽ phải liên miên và những con đường chỉ đủ cho hai chiếc xe gắn máy tránh nhau. Ngôi nhà nhỏ hẹp của ông nằm khép nép trong một xóm lao động. Và từ hơn nửa thế kỷ qua đến nay, nó chỉ được sửa chữa qua loa cho “sạch nước cản”, chứ không phải là một sự “đi lên” hay “đi xuống”. Cuộc sống của ông thanh đạm lắm. Con người ông cũng vậy, giản dị, xuề xòa, đối với ai ông cũng thân thiện, niềm nở.

Năm 2006, khi ông từ Pháp trở về VN, tôi đến thăm ông vài lần. Những ngày sau cùng, ông sống trên căn lầu nhỏ, hệt như cái chuồng chim. Chiều ngang 2m chiều dài gần 3m, nhưng có được cái máy lạnh. Khách đến chơi, không được quá 3 người. Chỗ đâu mà ngồi. Cũng chẳng có chỗ treo tranh như nhà nhiều họa sĩ khác. Trong phòng ông chỉ đủ chỗ treo một hai bức mới nhất. Mỗi khi cần giới thiệu một bức tranh nào, ông phải nhờ một người con mang từ một nơi nào đó trong nhà vào phòng.

Chính ở nơi này ông đã sáng tác 13 bức tranh trong triển lãm vào tháng 12 năm 2006, tôi đã có dịp tường trình với bạn đọc trong bài “Lẩm Cẩm Sài Gòn” số 118 ngày 20-12-2006. Không ngờ đó lại là lần triển lãm cuối cùng của Thái Tuấn và sau đó vài ngày là bữa cơm thân mật của anh em chúng tôi, cũng lại là bữa ăn với nhau cuối cùng ở nhà hàng Cơm Niêu. Thái Tuấn mang theo một chai rượu vang, đúng … kiểu Tây. Bữa đó có cả cụ Mạnh Đan, vợ chồng Đằng Giao, Nguyễn Thụy Long do bà chủ báo Cỏ Thơm ở Virginia về mời.

Những ngày cuối cùng
Anh cứ hẹn tôi, lúc nào sẽ lên Lộc Ninh nằm chơi vài ngày, nếu thích sẽ vẽ mấy cô gái thượng. Trong hàng loạt tác phẩm của anh, hầu hết diễn tả vẻ đẹp thiếu nữ thuộc nhiều thành phần khác nhau, có lẽ chỉ thiếu một số cô gái miền sơn cước. Tôi nghĩ đó cũng là dự định của anh vào thời gian này. Nhưng ý tưởng chưa thực hiện được thì anh đã nằm bệnh viện. Sau này, thỉnh thoảng anh điện thoại cho tôi, hỏi thăm cây cỏ hoa lá, nhưng tiếng anh khào khào qua điện thoại, chỉ được vài câu rồi con anh phải “phiên dịch” lại.

Lời chia buồn của hoa sĩ Tú Duyên
và nhiếp ảnh gia Mạnh Đan
Trước ngày anh ra đi, tôi vẫn nhận được tin tức anh qua điện thoại. Vài ngày trước khi mất, các con anh nói rằng bây giờ anh chỉ “bút đàm”, tức là chỉ nói chuyện bằng giấy bút, chứ không nói được. Mới hôm trước ngày 25-9, được tin anh ra khỏi phòng cấp cứu. Trưa hôm sau, 13 giờ ngày 26-9-2007, được tin anh mất trên đường từ bệnh viện về nhà. Tôi cấp tốc thông tin đến bạn bè khắp nơi. Một số bạn nhanh chóng hồi âm và giao cho tôi nhiệm vùa thay mặt đi phúng điếu hoặc chuyển lời phân ưu đến tang quyến.

Những người “anh em cũ”
Tôi đáp chuyến xe đò vào sáng sớm về Sài Gòn.Trước đó tôi đã nhờ Hàm Anh đặt sẵn vòng hoa để mang đến nhà tưởng niệm, trong khuôn viên nhà thờ Tân Định, nơi quàn linh cữu cố họa sĩ. – Mới đó mà hôm nay đã thành “cố” rồi!

Khi tôi đến nơi đã là gần trưa, 3 người con trai của anh Thái Tuấn đón sẵn, đưa vòng hoa của các bạn ở nước ngoài và chúng tôi vào bên bàn thờ người quá cố. Rất nhiều vòng hoa của thân nhân và thân hữu để la liệt bên linh cữu. Những cái tên rất quen của “làng văn, làng báo Sài Gòn những ngày xưa”, tôi không thể kể hết.

Người con đầu của anh Thái Tuấn cũng đã ngoài 60, Thái nắm tay tôi kể:
– Bác Tú Duyên và bác Mạnh Đan vừa ở đây về thì chú tới.

Anh Tú Duyên năm nay đã 92 rồi nhưng vẫn còn khỏe mạnh. Thái đưa cho tôi xem mấy hàng chữ của họa sĩ Tú Duyên vừa ghi trong cuốn sổ lưu niệm. Nét chữ mới chỉ hơi run, nhưng lời lẽ thì vẫn còn rất trẻ: Anh viết: “Cầu cho linh hồn họa sĩ yên vui. Còn tôi hơn bồ 2 tuổi còn ngồi đây viết những lời như thế này. Thân chào linh hồn họa sĩ. Đồng nghiệp Tú Duyên. Ngày 27-9-2007”.

Phía dưới trang giấy kẻ ô vuông là dòng chữ của Lão nghệ sĩ nhiếp ảnh “râu dài” Mạnh Đan: “Vô cùng thương tiếc người bạn cố tri. Thái Tuấn ra đi không bao giờ trở lại. Vĩnh biệt. Nguyễn Mạnh Đan”.
Còn vài chục trang giấy như thế của những người thân, những người bạn, những người anh em, già trẻ lớn bé, lớp trước lớp sau, tôi không thể kể hết. Điều đó chứng tỏ khi sinh thời ông đã sống như thế nào. Đó là điều quan trọng chứ không phải là tên tuổi, nổi danh hay không nổi danh. Thái độ sống và cách sống với những người xung quanh mới chính là con người thật.

Vĩnh biệt họa sĩ tài hoa Thái Tuấn.

Sunday, June 17, 2007

FATHER OF HAND STAMPING ON SILK

Painter Tu Duyen is known in Vietnam as the founder of hand stamping on silk and many of his works have been snapped up by foreign buyers including the US’s billionaire Rockefeller family.

Born in 1915 in the northern Bac Ninh province, Tu Duyen, real name Duyen Van Nguyen, graduated from the Indochina Fine Arts College in 1938. He left an indelible imprint on Vietnamese painting techniques with his success in creating wood block printing on silk, known as Thu An Hoa.

Wood block printing is a technique often used for printing text, images, or patterns on paper and cloth, and is widely used in East Asian countries, especially China and Japan. 
In Vietnam wood block printing had long been popular in creating Dong Ho folk paintings, but to make a painting with 10 colors, for instance, people had to use 10 different wood blocks each with a single color.

In 1940 Tu Duyen began to devote himself to simplifying the technique and three years later succeeded in finding a new original technique he called Thu An Hoa. 
Using it, a painter needs only two wooded blocks – yin and yang – and uses his fingers to mix colors and arrange them on the woodblocks before putting a silk sheet on the blocks and stamping it, creating a painting with numerous colors.

By 1950 Tu Duyen’s art form was recognized nationwide. His hand-stamping paintings were very vivid and fanciful that none of the ink paintings could compare with them.

Tu Duyen derived his inspiration from Vietnamese literature, especially from Truyen Kieu (The Tale of Kieu) and Luc Van Tien, the two most recognizable and influential epics written by the poets Nguyen Du (1765-1820) and Nguyen Dinh Chieu (1822-1888).

Among Tu Duyen’s major topics were enchanting sceneries, festivities, traditional architecture, and daily life on the farm. He was also fond of depicting famous characters from Vietnamese history – like Tran Binh Trong, a general who served the Tran Dynasty in the 13th century. During a battle with the invading Yuan army, Trong was captured and offered a high position in their feudal system if he surrendered. He refused and was beheaded in February 1285. The general is legendary for his reply to his captors: “I’d rather be a ghost of the Southern country (Vietnam) than be the king of the Northern nation (China).”

Tu Duyen’s painting of Trong won the first prize in a fine arts competition in southern Vietnam in 1955. This work, together with another painting titled Khuyen Hoc (Studying promotion), was bought by Rockefeller, one of the richest Americans in history, before 1975.

Also before 1975 the Cambodian embassy in Saigon bought five of Tu Duyen’s paintings of Angkor Wat.  
Tu Duyen’s paintings have also been well received in many countries including the Philippines, France, Japan, Malaysia, and Belgium. More than 14 of his works are preserved and displayed at the Ho Chi Minh City Fine Arts Museum.

(Reported: Ha Dinh Nguyen | 
Translated: Thu Thuy)

Thursday, May 31, 2007

VIETNAM'S FATHER OF HAND-STAMPING ONTO SILK PAINTING

Painter Tu Duyen, 93, achieved success in creating a technique of woodblock printing onto silk, also known as, “hand-stamping onto silk painting”, and is considered father of this special and difficult craft in Viet Nam.

Painter Tu Duyen (L) and famous
photographer Ninh An Vo.
Woodblock printing is a technique often used for printing text, images or patterns onto paper and cloth, and is widely used throughout East Asia, most likely originating in China and Japan.

For color printing, painter Tu Duyen successfully combined his new technique with traditional printing, which enabled him to be able to use only two blocks to create numerous colors instead of the traditional method of using one block to print each color.

Tu Duyen depicts a range of subject matter in his exquisitely detailed paintings, ranging from enchanting scenery, festivities, traditional architecture to daily life on the farm and is especially fond of taking direct inspiration from Vietnamese literature (Truyen Kieu (The tale of Kieu), Luc Van Tien, etc) and famous characters in history.

A painting themed "Minh Mang Temple" by painter Tu Duyen
Tu Duyen, whose real name is Duyen Van Nguyen, was born in 1915 in the Bac Ninh Province and graduated from the Indochina Fine Arts College in 1938.

His family moved to Ho Chi Minh City in 1939, where he achieved success as the inventor and producer of hand-stamped silk paintings by 1943. By 1950, the art form was recognized nationwide and in 1955, his painting "Tran Binh Trong" won him first place in the Fine Arts Prize.

His products became well known both at home and abroad, in such countries as the Philippines, France, Japan, Malaysia, Belgium and many more.

By 1975, the painter had sold two artworks to Rockefeller, one of the richest Americans in history, and 5 paintings of Angkor Wat to the Cambodian Embassy in Viet Nam. More than 14 of his artworks are currently on display, under preservation by the Ho Chi Minh City Fine Arts Museum.

(Source: TN | Translated: Kim Khanh)

COLLECTION

Tú Duyên was born as Nguyễn Văn Duyến on 20 December 1915 in the historic pottery village of Bát Tràng in Bắc Ninh province, about 30km east of Hanoi. He spent six months as a private student in the studio of Nam Sơn before enrolling in the preparatory course of the École des Beaux-Arts de l’Indochine in 1935. 

Họa sĩ Tú Duyên
After the Japanese took control of northern Vietnam in 1940, Tú Duyên moved south to Saigon in 1942, where he started experimenting with woodblock carving, using his knowledge of Đông Hồ folk prints that he had seen created by village farmers in the north. He devised a new technique, using only positive and negative woodblocks to which he would apply colours using his fingers and then press or rub his hand to apply the image on to silk or paper. He called his new technique ‘hand-stamped printing’. The press soon embraced Tú Duyên’s style and subjects and his work became acclaimed in Vietnam and overseas from the late 1940s onwards. His silk paintings mostly depict scenes from traditional Vietnamese folk tales or morals.

Asiarta Foundation will soon publish a comprehensive book on Tú Duyên’s life and works.

Wednesday, May 30, 2007

GẶP NGƯỜI BÁN TRANH CHO "VUA DẦU LỬA" MỸ

Họa sĩ Tú Duyên sinh năm 1915 tại làng gốm Bát Tràng (Bắc Ninh). Ông vào trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1935 nhưng phải học đến 3 năm lớp dự bị. Năm 1939, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Tú Duyên là người đã tìm ra kỹ thuật thủ ấn họa có một không hai ở Việt Nam.

 Tú Duyên tên thật là Nguyễn Văn Duyến, ông có một người bạn rất thân chuyên vẽ chân dung là Đỗ Văn Tư, người làng thêu Hướng Dương (Hà Đông). Khi vào Nam, nhớ bạn nên ông ký tên là Tứ Duyên (đọc lái Duyến Tư), nhưng do người Pháp không đọc được chữ "Tứ" nên lâu ngày bút danh này trở thành Tú Duyên. Trong sáng tác, Tú Duyên chọn kỹ thuật in mộc bản làm sở trường của mình.

Kỹ thuật in mộc bản đã có từ rất lâu ở các nước Á Đông, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản. Ở Việt Nam, tranh làng Hồ nổi tiếng cũng được thực hiện bằng kỹ thuật này. Nhưng để in được một bức tranh 10 màu trơn, cần phải có 10 bản khắc (mỗi bản một màu). Từ năm 1940, Tú Duyên đã miệt mài nghiên cứu, tìm cách cải tiến kỹ thuật in tranh mộc bản. Cuối cùng, ông đã tìm ra một kỹ thuật mới mà ông đặt tên là thủ ấn họa.

Với kỹ thuật này, ông chỉ cần 2 bản khắc (bản âm và bản dương) là có thể thể hiện một không gian màu sắc vô cùng phong phú. Dụng công của họa sĩ là dùng 10 đầu ngón tay để pha trộn, bố trí màu dày mỏng, đậm nhạt cho bức tranh trên bản khắc, sau đó đặt lụa lên, xoa, ấn, vuốt, dập... Bức tranh in ra mỗi bản mỗi khác, vừa có vẻ đẹp của mộc bản vừa uyển chuyển, ảo huyền mà ngọn bút lông không tài nào diễn tả được. Tranh thủ ấn họa của Tú Duyên hết sức phóng khoáng, sinh động, toát lên được cái thần của cảnh, của vật, của người...
Khuyến Học
Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ Anh Ninh kể: "Năm 1952, tôi đã gặp Tú Duyên, bẵng đi đến 1975 mới gặp lại sau ngày đất nước hòa bình. Tôi đã được quan sát nhiều lần kỹ thuật in ấn tranh làng Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh) và lối mộc bản tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam, mới nhận thấy được lối thủ ấn họa của Tú Duyên rất kỳ khu sáng tạo, tuy chỉ hai bản gỗ nhưng khi hoàn thành bức tranh, rất nhiều màu sắc hòa hợp bay bướm, huyền ảo ..." Học giả Nguyễn Hiến Lê cũng nhận xét: "Thủ ấn họa huyền ảo hơn vẽ, tôn tin rằng nhờ anh Tú Duyên mà nền nghệ thuật Việt Nam góp được một phần danh dự với nền nghệ thuật thế giới".
Cảm hứng nghệ thuật của Tú Duyên lấy từ kho tàng văn học Việt Nam (Kiều, Chinh phụ ngâm, Lục Vân Tiên...). Những không gian hoạt cảnh hội hè, đình đám: mái chùa, bến nước, cây đa của một làng quê quan họ như một hoài niệm đẹp và là nỗi ám ảnh khôn nguôi... Đặc biệt, Tú Duyên rất thích thể hiện những nhân vật lịch sử hào hùng mang truyền thống bất khuất của dân tộc: Thà làm quỷ nước Nam... (câu nói nổi tiếng của Trần Bình Trọng khi bị giặc bắt và bị Thoát Hoan dụ hàng: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc!"), Thù cha con nhớ lo cho nước (lời của Nguyễn Phi Khanh dặn con Nguyễn Trãi ở ải Nam Quan khi vua tôi Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt giải về Tàu)...

Tranh thủ ấn họa của Tú Duyên không chỉ vang danh trong nước mà còn chu du đến nhiều quốc gia khác: Philippines, Pháp, Nhật, Malaysia, Bỉ... Trước 1975, "Vua dầu lửa" - tỉ phú Rockefeller (Mỹ) đã mua của Tú Duyên 2 bức Thà làm quỷ nước Nam và Khuyến học; Tòa đại sứ Miên (Campuchia) mua 5 bức Angkovat (hiện còn 1 bức duy nhất)... Tú Duyên còn có hơn 14 tác phẩm được lưu trữ ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. HCM.

Thủ ấn họa là một loại hình lao động nghệ thuật nhọc nhằn. Năm 1996, tôi đến thăm xưởng vẽ của ông tại số 161 Nguyễn Công Trứ (Q.1, TP.HCM), thấy ông vẫn đeo một chiếc tạp dề lấm lem sơn màu để miệt mài sáng tác. Lúc đó dù đã 82 tuổi, ông vẫn đang cật lực chuẩn bị cho cuộc triển lãm lần thứ 18 của mình. Mới đây nhất, tôi có dịp ghé lại thăm ông, dù đã 93 tuổi ông vẫn tiếp tục sáng tác. Quả không hổ danh Đệ nhất thủ ấn họa Việt Nam.

(Hà Đình Nguyên | Việt Báo)

Saturday, June 3, 2006

NGÀY VĂN HÓA & Y TẾ CỘNG ĐỒNG TẠI SAN DIEGO

Lần đầu tiên Quận San Diego cũng tuyên bố ngày Thứ Bảy 3-6-2006 là Ngày Hiệp Hội Người Việt San Diego (Vietnamese Federation of San Diego Day). Đây thực là một vinh dự cho Hiệp Hội và cộng đồng. Vì vậy HH đã quyết định mời toàn thể đồng hương đến dự lễ tiếp nhận Quyết nghị này trong dịp lễ khai mạc Ngày Văn Hóa và Y tế Cộng Đồng. Hơn một trăm người đã đến tham dự trong không khí rất trang nghiêm, long trọng. Một phái đoàn từ Santa Ana cũng xuống chung vui với chúng ta. Xin độc giả đón đọc bản tường trình riêng về buổi lễ này.

Sinh hoạt văn hóa gồm có các bộ môn hội họa, nhiếp ảnh, nghệ thuật cắm hoa, non bộ và cây cảnh, dạ vũ và trình diễn văn nghệ. Mở đầu, họa sĩ Duyên Hà Lê Phục Thủy thuyết trình về đề tài “Hội Họa Việt Nam Xưa và Nay” trước một cử tọa chọn lọc. Ông nói: “Họa sĩ là người dùng thị giác làm phương tiện để thể hiện và truyền thông vẻ đẹp”. Ông đã trình chiếu gần 100 hình chụp các họa phẩm với lời thuyết minh.


Hội họa Việt Nam ngày xưa là các hình vẽ trong hang động, hình khắc trên trống đồng và bức chân dung của Nguyễn Trãi… Tiếp đến là các tranh dân gian gồm các tranh Hàng Trống thanh lịch, tranh Đông Hồ bình dân, tranh Làng Sình tân tiến. Hình họa trong 4000 bức của sưu tập Henri Oger mô tả cảnh sinh hoạt của dân ta vào đầu thế kỷ 20 một cách chính xác. Khán giả đã có dịp cười thoải mái với hai cảnh hoạt kê trong tranh Ðông Hồ “Ðánh ghen”. Trong bức thứ nhất, đứa con về phe bố, cố níu áo mẹ không cho cắt tóc bà vợ lẽ. Trong bức thứ hai, đứa con về phe mẹ đang ném đá vào bà dì ghẻ!

Sự thành lập Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương đã thay đổi bộ mặt của hội họa Việt Nam. Họa sĩ tốt nghiệp từ trường này nhiều người nổi danh như Tô ngọc Vân, Giám Đốc người Việt đầu tiên thay thế GS Tardieu và đã tử trận khi tham gia trận Điện Biên Phủ năm 1954, Lê văn Đệ, Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật thời Việt nam Cộng Hòa, Lê Phổ có danh tiếng quốc tế, Tạ Tỵ nổi tiếng với tranh lập thể, Nguyễn gia Trí, người đã đưa tranh sơn mài lên mức nghệ thuật cao, cũng như các danh hoạ lừng danh một thời như Lê thị Lựu, Nguyễn phan Chánh, Trần văn Cẩn, Nguyễn tường Lân (Thạch Lam), Bùi xuân Phái…

Hội họa Việt Nam ngày nay được trình chiếu với tranh của các họa sĩ ở cả hai miền Nam, Bắc trước và sau 1975. Trước 1975, tại miền nam, Hội “Họa sĩ trẻ” và các cuộc “Triển lãm mùa xuân” là những sinh hoạt rất khởi sắc với các tên tuổi Nguyên Khai, Bé Ký, Hồ thành Ðức, Nguyễn thị Hợp, Nghiêu Ðề….Ðây cũng là nhóm họa sĩ nòng cốt sau này ở Hoa kỳ. Các danh họa Thái Tuấn, Nguyễn gia Trí, Tú Duyên …đã gây được sự chú ý trên trường quốc tế. Ngoài Bắc, số họa sĩ thuộc nhóm Trường Cao đẳng Mỹ thuật Ðông Dương cũ và các lớp trẻ ít có sáng tác xuất sắc vì phần lớn phải vẽ theo nhu cầu chính trị và thiếu phương tiện. Sau cùng họa sĩ Việt Nam ở hải ngoại cũng góp phần lớn trong việc phát triển hội họa Việt Nam cùng với lớp họa sĩ trẻ tại Việt Nam ngày nay.

Một số tranh của các lớp họa sĩ này như Nguyễn Việt, Hồ Anh, Ann Phong, Ðèo Chính Mung …tại Hoa kỳ và Lương xuân Ðoàn, Trần trọng Vũ, Trịnh công Sơn sinh sống tại Việt Nam cũng đã được trình chiếu. Vì thiếu tài liệu và thì giờ có hạn nên diễn giả đã xin lỗi không có dịp đề cập đến một số họa sĩ có danh tiếng như ViVi, Võ Ðình, Nguyễn Quỳnh, Ðinh Cường…

Sau cùng diễn giả đề cập đến những khó khăn trực diện họa sĩ : sự xuất hiện của ảnh đen trắng đã tước bỏ độc quyền mô tả ngoại giới bằnh hình ảnh và ảnh màu đã lấn át độc quyền dùng màu sắc của hội họa. Điện ảnh sống động lấn át vẻ đẹp trong tĩnh lặng của hội họa. Gần đây video còn mạnh hơn điện ảnh vì rẻ tiền và phổ biến hơn, cá nhân nào cũng sử dụng được. Cuối cùng máy điện toán có thể làm biến đổi các hình ảnh thực tế, cũng vẽ “ma” được như họa sĩ! Họa sĩ đã phải quay về với nội tâm để khám phá những khao khát vẻ đẹp muôn đời của con người, và diễn tả bằng những hình thức mới. Diễn giả nhận xét: “Nếu không có họa sĩ thì đời sống tẻ nhạt đến chừng nào!” nhận xét đó cũng áp dụng cho các nghệ sĩ thuộc bộ môn khác như nhiếp ảnh, điện ảnh, cắm hoa, âm nhạc….

Sau phần thuyết trình, hoạ sĩ Nguyễn Văn Mộch trình bày về cách in mộc bản của ông cha ta, rồi mời mọi người tự tay in những tranh mộc bản với những bản khắc gỗ, giấy bản và mực đen. Khán giả hưởng ứng nồng nhiệt. Dưới sự hướng dẫn của ông, những bức tranh thơm mùi mực đã được sáng tác để làm kỷ niệm mang về nhà trong niềm hân hoan của các “họa sĩ” mới ra nghề!

Hội trường Trụ sở Hiệp Hội cũng đã trang hoàng thật trang nhã với hơn 30 bình hoa tươi thắm trình bày rất nghệ thuật của các nghệ sĩ trong Hội Nghệ Thuật Cắm Hoa, các bà Lê Ngọc Châu, Hồng Phúc và Đào Giao Chi. Tham dự triển lãm hội họa kỳ này là các họa sĩ Vivi, Đơn Sa (Diễm Châu), Tạ Đức Ngây, Văn Mộch và Duyên Hà. Mỗi người một sắc thái: Tranh Vivi bố cục rất đẹp, màu sắc cổ kính. Đơn Sa thuần nhã. Tạ Đức Ngây vẽ bằng muội đèn rất “hiện thực”, dễ mến. Văn Mộch sử dụng ít màu sắc , tuy dùng sơn dầu mà phảng phất ý vị của tranh thủy mạc, đối lập hẳn với Duyên Hà dùng mầu sắc tươi vui diễn tả cảm xúc bén nhạy thoáng qua khi vẽ ngoài trời, tức cảnh sinh tình. Ảnh khá nhiều và mang tích chất nghệ thuật cao, phần lớn của các nhiếp ảnh gia thân hữu của ông Lê công Nghiệp như Thái Đức Nhã... Ngoài ra ông Nguyễn văn Vĩnh cũng trình bày nhiều hòn Non bộ và cây cảnh rất công phu.

Ngày thứ bảy kết thúc bằng một buổi dạ vũ rất thành công với trên 300 người tham dự, trong số có nhiều sinh viên trẻ. Vào cửa miễn phí, với thiệp mời của Hiệp Hội dành cho tất các đồng hương nào muốn dự dạ vũ. Không khí thật tưng bừng và hoàn toàn thanh lịch. Hai ban nhạc The Rose và SilverSound chơi nhạc “tour” chen lẫn các bản nhạc dành cho tuổi trẻ rất đặc sắc. Ngoài tiếng nhạc hào hứng, dạ vũ thành công lớn cũng nhờ tiếng hát điêu luyện của các ca sĩ Tuấn Anh, Thanh Hằng, Thanh Trúc, Thúy Vân, Thu Hồng, Thi Nga, Thy Tự, Dương Nghi, Minh Tuấn…Dạ vũ khai mạc đúng giờ từ 8:30 tối.

Trong nửa giờ giải lao, kỹ sư Trần Hùng Tiết, Trưởng ban tổ chức đã trình bày việc tái hoạt động của đài truyền hình VIET-PBS trên băng tầng 19, Time Warner Cable, từ 6:30-7:00 tối thứ tư và chủ nhật kể từ 11 tháng 6 năm 2006. Ngoài ra, Các người tham dự dạ vũ cũng có dịp thưởng thức các bình hoa nghệ thuật, tranh, ảnh, non bộ và cây cảnh tại hội trường.

Dạ vũ kết thúc vào lúc 12:00 giờ đêm trong sự hân hoan của mọi người, hẹn tái ngộ tại Trụ sở Hiệp Hội trong lần dạ vũ tới, có lẽ vào thu khi thời tiết đã mát mẻ.

Ngày chủ nhật 4-6-2006 có hai sinh hoạt chính đã thành công mỹ mãn. Ngày Y tế Cộng Ðồng với trên 300 đồng hương tham dự và buổi trình diễn văn nghệ Vương Màu Kỷ Niệm 2 với hơn 100 người yêu thích văn nghệ. Xin đón xem các bài tường trình riêng về Ngày Y tế và buổi trình diễn văn nghệ.

(Lê Phục Thủy)

Wednesday, February 22, 2006

HỌA SĨ TÚ DUYÊN

Tác phẩm: Đờn ca
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 74 cm x 44 cm
Năm sáng tác:  1963
Năm sưu tầm: 20/10/1993

Sinh trưởng trong một gia đình nhà nho tại làng cổ Bát Tràng, Bắc Ninh, từ nhỏ cậu bé Nguyễn Văn Duyến (tên thật của họa sĩ Tú Duyên) rất thích vẽ. Năm 1935, khi 20 tuổi, ông theo học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1939, gia đình ông chuyển vào Sài Gòn sinh sống. Thời gian đầu vào Nam, ông vẽ tranh cho các báo, vẽ tranh lụa… đến 1942 mới bắt đầu vẽ thủ ấn họa. Tú Duyên là người đã tìm ra kỹ thuật thủ ấn họa có một không hai ở ViệtNam.

Yêu thích tranh dân gian Đông Hồ từ bé, bị cuốn hút bởi những hình ảnh vui tươi, gần gũi, khoáng đạt của người dân quê hồn hậu qua bản khắc gỗ thật đẹp nên ông quyết tâm chọn một con đường riêng gắn với tranh dân gian mà sau nhiều nghiên cứu, tìm kiếm mới hình thành nên thủ ấn họa.

Tác phẩm: Trần Bình Trọng
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 90 cm x 50 cm
Năm sáng tác:  1959
Năm sưu tầm: 20/10/1993



Để thực hiện một bức tranh dân gian Đông Hồ, tranh có bao nhiêu màu thì phải có bấy nhiêu bản khắc gỗ, và đều là các bản dương. Với thủ ấn họa, chỉ dùng một bản âm và một bản dương, họa sĩ sử dụng ngón tay, lòng bàn tay, cạnh tay để xoa màu trên bản khắc rồi đặt lụa lên, mặt âm làm phông, sau đó dùng mặt dương để nhấn thêm rồi xoa, ấn, vỗ, miết… trên mặt lụa cho thấm màu. Mỗi bản tranh làm theo lối thủ ấn họa lại có màu sắc đậm nhạt, dày mỏng khác nhau tùy theo sự điều chỉnh linh hoạt của họa sĩ.

Ba chủ đề chính là nguồn cảm hứng cho tranh của Tú Duyên:
- Những nhân vật lịch sử. Điển hình như bức “Thà làm quỷ nước Nam.”
- Từ ca dao, các tác phẩm cổ văn, như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm Khúc... Điển hình là những bức tranh, bây giờ còn nhiều người nhớ tới, như bức “Chẳng ham vựa lúa anh đầy- Tham năm ba chữ cho tầy thế gian (ca dao). Hoặc “Mai cốt cách tuyết tinh thần” (Kim Vân Kiều - Cùng 29 bức khác, cũng đi ra từ Truyện Kiều...).
- Phụ nữ Việt Nam.  

Họ và tên: Nguyễn Văn Duyến. Bút danh: Tú Duyên
Năm sinh: 20/12/1915. Nguyên quán: Bát Tràng, Hà Nội

Thân thế sự nghiệp:
Tác phẩm: Ngày hội
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thướcc: 47 cm x 108 cm
Năm sáng tác:  1960
Năm sưu tầm: 25/12/1998
- 1935 – 1938: học tại trường Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, chuyên khoa  Hội họa. Hiệu trưởng: ông Victor Dieu (người Pháp). Giáo viên chuyên môn: ông Nguyễn Văn Thọ (cụ Nam Sơn). Cùng khóa với Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Sỹ Ngọc, Nguyễn Thị Kim…

- Năm 1938: làm nghề thợ vẽ ở số 36 Đường Phố Mới - Hà Nội.

- Năm 1939: vào Sài Gòn ở tại số 150, đường Gia Long. Làm nghề vẽ báo và vẽ quảng cáo. Trong thời gian này, tác giả lấy bút danh là Tứ Duyên, đây là sự kết hợp giữa tên tác giả và một người bạn cùng làm chung tên là Đỗ Văn Tư. Sau vì chữ Tứ Duyên hơi khó đọc đối với người ngoại quốc lúc bấy giờ nên quen miệng mọi người đọc trại ra là Tú Duyên cho đến nay.

Tác phẩm: Tiễn chồng
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 32 cm x 86 cm
Năm sáng tác:  1954
Năm sưu tầm: 20/10/1993
- Năm 1945: tham gia mặt trận giải phóng miền Nam ở Mỹ Tho (Tiền Giang) dưới quyền của anh Phạm Văn Đặng (anh Đặng là người gốc Gò Công, công tác ở mặt trận Tổ quốc tỉnh Tiền Giang).

- Năm 1946: về Thủ Dầu một vừa vẽ, vừa làm công tác tuyên truyền (dưới quyền anh Vũ Duy Hanh).

- Năm 1947: vì là người ở thành phố nên tác giả được phân công ra đường lộ để công tác tuyên truyền văn hóa, được khoảng hơn 01 tháng thì bị địch bắt cùng với Bùi Thanh Khiết, Lưu Nguyên Tụng; 04 tháng sau thì được thả về Sài Gòn tiếp tục làm nghề vẽ và vẽ báo.

- Năm 1949: ở Sài Gòn tại số 30, trên lầu đường Reim (nay là đường Lê Công Kiều). Địa chỉ của tác giả là thùng thư của tỉnh Thủ Dầu Một, do cô Nguyễn Thị Kim (gọi là cô Tám) là liên lạc viên của mặt trận Tổ quốc tỉnh Thủ Dầu Một làm liên lạc viên.

Tác phẩm: Đánh ghen
Chất liệu:  Khắc gỗ in trên lụa
Kích thước: 32 cm x 32 cm
Năm sáng tác:  1952
Năm sưu tầm: 20/10/1993
- Năm 1952: liên lạc được với Ban binh vận do Trần Văn Thịnh (bí danh Hà Thanh, Tám Dũng, Ba Tựu) là trưởng ban. Thời điểm này, tác giả vừa dạy vẽ ở trường Mỹ thuật Gia Định, vừa tiếp tục phát huy môn thủ ấn họa của riêng tác giả.

Các giải thưởng:
- Huy chương danh dự của Hội Văn học miền Nam (thập niên 60).
- Huy chương “Vì sự nghiệp Mỹ thuật Việt Nam” của Hội Mỹ thuật Việt Nam (1997).
- Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam”của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1999).

Tác phẩm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Tp HCM: 09 tranh thủ ấn họa trên lụa, 52 bản khắc gỗ.